Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Trần Mỹ Hoa’

Ung thư là một khái niệm rộng với hơn 100 loại ung thư khác nhau. Mặc dù mỗi loại có các đặc điểm riêng nhưng vẫn có một số triệu chứng xảy ra ở nhiều loại ung thư khác nhau.

Điều quan trọng cần lưu ý là một số loại ung thư không có bất kỳ triệu chứng nào cho đến khi tới giai đoạn muộn. Điều này là lý do tại sao sàng lọc và đánh giá nguy cơ mắc ung thư là rất quan trọng để phòng ngừa và phát hiện sớm ung thư .

Triệu chứng ung thư

Mệt mỏi kéo dài: Mệt mỏi là một trong các triệu chứng ung thư phổ biến nhất. Nó thường phổ biến hơn khi ung thư  bắt đầu tiến triển, nhưng vẫn xảy ra trong giai đoạn đầu của một số bệnh ung thư. Thiếu máu – một tình trạng có liên quan với nhiều loại ung thư, đặc biệt là các loại ảnh hưởng đến ruột – thường là thủ phạm của mệt mỏi. Mệt mỏi là triệu chứng của cả hai tình trạng ác tính và không ác tính và cần được đánh giá bởi bác sĩ.

– Sụt cân không chủ ý: Mặc dù nó có thể là một bất ngờ được chào đón khi sụt cân mà không cần phải cố gắng nhưng nó có thể là một lá cờ đỏ cho nhiều căn bệnh, bao gồm cả ung thư. Việc mất 10 pound (4.5 kg)  hoặc hơn mà không do chủ đích chắc chắn cần phải gặp bác sĩ. Loại sụt cân này có thể đi kèm với mất cảm giác ngon miệng hoặc không. Hãy nhớ rằng, sụt cân có thể là một triệu chứng của bệnh ung thư, nhưng cũng là triệu chứng của nhiều căn bệnh khác.

Đau: thông thường, đau không phải là một triệu chứng sớm của ung thư, ngoại trừ một vài loại ung thư, như  những loại có lan đến xương. Đau thường xảy ra khi ung thư bắt đầu lan ra và bắt đầu ảnh hưởng đến các cơ quan khác và các dây thần kinh.

Đau vùng lưng  dưới là một triệu chứng ung thư, có liên quan với ung thư buồng trứng và ung thư đại tràng. Đau vai cũng có thể là một triệu chứng của ung thư phổi. Đau đầu có thể có liên quan với các khối u não (ác tính và lành tính).

Đau bụng có thể liên quan đến nhiều loại ung thư, như ung thư dạ dày, ung thư tuyến tụy, và nhiều loại khác. Đau bụng là một triệu chứng rất mơ hồ vì có quá nhiều bệnh có thể gây đau bụng.

Sốt: Sốt là một triệu chứng rất không đặc trưng của nhiều thể bệnh từ nhẹ đến nặng, bao gồm cả ung thư. Liên quan đến ung thư, sốt kéo dài hoặc sốt đến và đi thường xuyên có thể là dấu hiệu quá tải của hệ miễn dịch. Sốt thường có liên quan với các loại ung thư có ảnh hưởng đến máu, như bệnh bạch cầu và u lympho, nhưng cũng gặp phổ biến ở những người có bệnh ung thư đã lan rộng.

Hình ảnh của bệnh bạch cầu

Những thay đổi ở đường ruột: Nếu bạn bị táo bón, tiêu chảy, máu trong phân, phân nhỏ hơn, hoặc chỉ là một sự thay đổi chung chung thói quen đi cầu, bạn nên đến khám bác sĩ. Những triệu chứng này thường nhất là có liên quan với ung thư đại tràng, nhưng cũng có thể có liên quan đến các loại ung thư khác.

– Ho thường xuyên: Một cơn ho mới dai dẳng hoặc ho không dứt hoặc trở nên tồi tệ hơn cần được đánh giá bởi bác sĩ. Máu và / hoặc chất nhầy có thể đi kèm với ho và có thể được gây ra do nhiều bệnh. Liên quan đến ung thư, ho thường xuyên kèm máu hoặc chất nhầy có thể là triệu chứng của ung thư phổi.

Hãy nhớ rằng đây là các triệu chứng chung chung và mơ hồ của ung thư. Nếu bạn có một hoặc hai trong số những triệu chứng này, nó không phải là một lá cờ đỏ cho bệnh ung thư nhưng là dấu hiệu cho thấy bác sĩ của bạn cần làm một số xét nghiệm nhất định. Các triệu chứng được liệt kê ở trên xuất hiện ở hầu hết mọi người mắc bệnh ung thư ở các giai đoạn khác nhau của bệnh, nhưng cũng có liên quan đến nhiều bệnh khác không phải ung thư.

Nguồn:

http://cancer.about.com/od/causes/a/symptomscancer.htm

Read Full Post »

1. Thông tin chung:

Họ tên: Lý V.T , tuổi: 25, giới tính: nam

Ngày nhập viện: 22/4/2012

Lí do nhập viện: Đi cầu ra máu

2. Tóm tắt bệnh án:

– Tóm tắt bệnh sử:

Cách  NV 1 tháng, BN thỉnh thoảng đi cầu thấy có ra máu đỏ tươi, hòa cùng phân. Phân vàng, lượng ít, đóng khuôn. BN không thấy có khối nào sa ra khi đi cầu.

BN không đau bụng, ăn uống được, không sụt cân.

Tiền căn: chưa ghi nhận bất thường

– Thăm khám lâm sàng:

Bệnh nhân tỉnh, sinh hiệu ổn

Bụng mềm, không điểm đau khu trú, không sờ chạm u.

Hậu môn trực tràng: bóng trực tràng trống, có trĩ nội ở vị trí 4h, 7h. Rút găng không thấy máu.

– Đặt vấn đề: Trĩ nội xuất huyết

 

3. Mô tả (tường trình):

Loại thủ thuật: Nội soi tiêu hóa dưới

Ngày giờ thực hiện: 14g30 ngày 26/04/2012

Mô tả các bước tiến hành:

– Chuẩn bị BN:

* Thông báo cho BN về thủ thuật sắp tiến hành

* Dặn BN ăn thức ăn lỏng trước ngày nội soi và nhịn ăn từ 8g tối hôm trước.

* Buổi sáng, trước khi nội soi, cho BN uống dung dịch Fortans để làm sạch lòng đại tràng.

– Chuẩn bị dụng cụ:

Ống soi mềm được bôi trơn bằng gel rồi lắp vào hệ thống camera.

Monitor theo dõi sinh hiệu

– Cho BN nằm nghiêng, tay ôm gối, bộc lộ vùng hậu môn.

– Tiêm thuốc giãn cơ và an thần cho BN

– Yêu cầu BN thả lỏng người, đưa ông nội soi vào hậu môn BN

– Một BS đưa ống vào, một BS điều chỉnh hướng đầu dò

– Bơm hơi vào

– Đưa ống vào sâu dần: từ hậu môn đến trực tràng, rồi vào khung đại tràng, cuối cùng đến góc hồi manh tràng

– Quan sát hình ảnh trên màn hình nhằm tìm kiếm bất thường

Đọc kết quả:

Cơ vòng hậu môn tốt.

Hậu môn – trực tràng: Trĩ nội viền hậu môn cương tụ vừa, hiện không xuất huyết.

Đại tràng sigma, xuống: không viêm lóet có 1 polyp

Đại tràng lên: có 1 polyp, kích thước khỏang 0.8cm (sinh thiết)

Manh tràng: không viêm lóet

Van hồi manh tràng: mềm mại, co bóp tốt.

Kết luận: Polyp đại tràng lên. Trĩ nội viền hậu môn cương tụ vừa, hiện không xuất huyết

4. Kinh nghiệm lâm sàng:

Phải làm tốt khâu chuẩn bị BN (dặn BN ăn thức ăn lỏng/ nhịn ăn, cho BN dùng dung dịch Fortans) nhằm làm sạch lòng đại tràng, phục vụ tốt nhất cho việc nội soi

Read Full Post »

Phần hành chánh:
Họ tên: Thượng Văn T., tuổi: 68 , giới tính: nam
Địa chỉ: Q.10
Ngày nhập viện: 23/4/2012
Khoa: Ngoại TQ, buồng: 426
Lý do nhập viện: đau bụng

Bệnh sử:

Cách NV 3 giờ, BN thấy đau quặn cơn trên nền âm ỉ vùng hạ sườn trái, mỗi cơn dài khoảng vài phút, cứ 5-10 phút lên 1 cơn. Đau lan xuống hố chậu trái rồi lan khắp bụng. Không có tư thế giảm đau. Cơn đau tăng dần, sau chuyển thành đau liên tục.

BN có nôn ngay sau ăn, nôn ra dịch vàng như phân, nôn 3 lần, không giảm đau sau nôn.

BN tăng thân nhiệt, 38oC

BN thấy bụng chướng.

BN bí đại tiện 7 ngày, còn trung tiện

Tiền căn:

Mổ trĩ cách đây 2 năm.

Táo bón 3 năm.

BN có 1 lần đau tương tự cách đây 1 năm, đã nội soi đại tràng không phát hiện u

Điều trị ở bệnh viện tâm thần 2 năm

Thăm khám lâm sàng:

– Khám toàn thân:

BN tỉnh, tiếp xúc tốt

Da niêm hồng, không vàng da, vàng mắt

Không phù, hạch ngoại biên không sờ chạm

Dấu hiệu sinh tồn:

Mạch: 90 lần/phút, nhiệt độ: 37oC, huyết áp: 130/70 mmHg, nhịp thở: 20 lần/phút

– Khám ngực:

Ngực cân đối, không có vết mổ cũ

Gõ trong đều 2 bên, rung thanh đều 2 bên

Rì rào phế nang êm dịu 2 bên

Tim đều,  tần số: 90 lần/phút

– Khám bụng:

Bụng cân đối, di động theo nhịp thở.

Bụng chướng, không tuần hoàn bàng hệ.

Bụng không có vết mổ cũ, không thấy dấu rắn bò, không thấy quai ruột nổi

Nghe ruột có âm sắc cao vừa phải, tần số 7 lần/phút.

Gõ vang khắp bụng, không mất vùng đục trước gan.

Bụng mềm, ấn đau mơ hồ khắp bụng.

Gan, lách không sờ chạm.

– Khám hậu môn – trực tràng:

Cơ vòng hoạt động tốt, bóng trực tràng rỗng, không u bướu, không máu

Tóm tắt bệnh án:

Bệnh nhân nam, 68 tuổi, nhập viện vì đau bụng

– TTCN:

BN đau quặn từng cơn trên nền âm ỉ  vùng hạ sườn trái, lan khắp bụng, đau tăng dần sau chuyển thành đau liên tục.

Nôn sau ăn, ra dịch vàng như phân, không giảm đau sau nôn.

Bí đại tiện 7 ngày, còn trung tiện.

– TCTT:

Bụng chướng.

Ấn đau mơ hồ khắp bụng

– Tiền căn:

Mổ trĩ cách đây 2 năm.

Đặt vấn đề: HC tắc ruột

Cận lâm sàng:

– Công thức máu:

WBC  10.87K/uL

Neu   90.7 K/uL

Hct    43.2%

Hgb   14.8g/dL

PLT   216 K/uL

– Siêu âm: chưa ghi nhận bất thường

– X- quang: quai ruột chướng hơi

Read Full Post »

1-Thông tin chung

Ngày trực: 26/4/2012

Bác sĩ trực: Bs. Hằng, Bs. Tuấn, Bs. Giang, Bs. Hiếu, Bs. Tùng

2-Tường trình ca tiễu phẫu (khâu vết thương)

Họ tên: Nguyễn Thị T., tuổi: 60, giới tính: nữ

Cơ chế chấn thương: bị xe tông, đập mặt xuống đường.

Mô tả vết thương: vết thương cạnh chân mày phải, dài 5cm

Xử trí vết thương: rửa sạch vết thương bằng nước muối sinh lý pha oxy già; gây tê dưới da;  khâu 4 mũi bằng chỉ nylon số 4; sát trùng lại và băng bó vết thương.

3-Tường trình ca lâm sàng

Họ tên: Nguyễn Thị B. , tuổi: 85, giới tính: nữ

Giờ nhập viện: 13h ngày 26/4/2012

Lý do nhập viện: chướng bụng

Bệnh sử

Cách NV 1 ngày, BN đột ngột cảm thấy căng chướng bụng kèm đau âm ỉ vùng quanh rốn, đau không lan, không có tư thế giảm đau.

BN đại tiện khó, ra phân lượng ít, trung tiện không rõ, tiểu tiện bình thường.

BN nôn nhiều, dịch nôn hôi, có màu đen.

Tiền căn

chưa ghi nhận bất thường
Thăm khám lâm sàng

– Khám toàn thân:

BN không tiếp xúc được, thể trạng gầy.

Da niêm nhạt, không vàng da, vàng mắt

Không phù, hạch ngoại biên không sờ chạm

Dấu hiệu sinh tồn:

Mạch: 120 lần/phút, nhiệt độ: 37oC, huyết áp: 110/70 mmHg, nhịp thở: 20 lần/phút

– Khám ngưc:

Ngực cân đối, không có sẹo mổ cũ.

Có rale ẩm, ran nổ ở cả hai phế trường.

Tim  đập tần số 120 lần/phút, không nghe rõ T1,T2

– Khám bụng:

Bụng di động theo nhịp thở kém, không tuần hoàn bàng hệ

Bụng không có vết mổ cũ, không thấy dấu rắn bò, không thấy quai ruột nổi.

Bụng chướng căng.

Nghe ruột thấy âm sắc giảm.

Gõ vang khắp bụng, không mất vùng đục trước gan.

Bụng ấn đau vùng quanh rốn.

– Khám hậu môn – trực tràng:

không phát hiện u bướu, phân ra theo gant

Cận lâm sàng

– Công thức máu:

Neu   4.57 K/uL

Neu   81.5%

Lym%   8.9%

RBC   3.4 K/uL

Hgb   10.3 g/dL

Hct   32%

MCHC   32.3 g/dL

PLT   145 K/uL

MPV   10.4 fV

– Sinh hoá:

Glucose 155 mg/dL

BUN 44 mg/dL

AST 43 U/L

– X- quang:

Mức nước hơi bên phải ổ bụng

Xẹp phổi phải

Tóm tắt bệnh án

BN nữ, 85 tuổi, nhập viện vì chướng bụng

– TCCN: BN căng chướng bụng kèm đau âm ỉ vùng quanh rốn, nôn ra dịch màu đen, có mùi hôi, BN đại tiện khó, trung tiện ko rõ.

– TCTT: bụng chướng căng, ấn đau quanh rốn, nhu đông ruột có âm sắc giảm.

Đặt vấn đề:

Hội chứng mất máu cấp

Hội chứng tắc ruột

Chẩn đoán sơ bộ : Tắc ruột

Hướng xử trí:

BN được chuyển lên khoa Ngoại tổng quát để theo dõi thêm

4-Kinh nghiệm hay bài học rút ra từ tua trực

Thấy được hình xẹp phổi trên phim X quang

Read Full Post »

Tăng áp lực tĩnh mạch cửa-Bệnh học

Read Full Post »

Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) là một tình trạng viêm ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể, một phản ứng thường xuyên của hệ miễn dịch nhằm chống lại tình trạng nhiễm trùng, nhưng không thật cần thiết. Hội chứng này có liên quan đến nhiễm trùng huyết, một tình trạng trong đó người bệnh vừa đáp ứng các tiêu chuẩn của SIRS vừa có một nhiễm trùng đã biết hoặc nghi ngờ cao.

PHÂN LOẠI

SIRS là một tình trạng nghiêm trọng có liên quan đến sự viêm nhiễm trên toàn cơ thể, rối loạn chức năng nội tạng, và suy cơ quan. Nó là một tập hợp của cơn bão cytokine, trong đó có sự bất thường trong điều hòa các cytokine khác nhau. SIRS cũng liên quan chặt chẽ đến nhiễm trùng huyết, trong đó bệnh nhân đáp ứng các tiêu chí của SIRS và có một nhiễm trùng đang nghi ngờ hoặc đã được chứng minh

ĐỊNH NGHĨA

SIRS lần đầu tiên được mô tả bởi Tiến sĩ William R. Nelson, Đại học Toronto, trong một bài thuyết trình ở cuộc họp Nordic Micro Circulation ở Geilo, Na Uy vào tháng 2 năm 1983.

Tiêu chuẩn của SIRS được thành lập vào năm 1992 tại Hội nghị Critical Care Medicine Consensus . Hội nghị quyết định rằng SIRS bao gồm các triệu chứng sau, nhưng không chỉ giới hạn trong những triệu chứng này:

– Nhiệt độ cơ thể dưới 36oC hoặc lớn hơn 38oC

– Nhịp tim lớn hơn 90 lần/phút

– Thở nhanh, với tần số hơn 20 lần/phút, hoặc phân áp riêng phần của CO2 trong máu động mạch thấp hơn 4.3 kPa (32 mmHg)

– Số tế bào bạch cầu ít hơn 4.000 tế bào/mm3  hoặc lớn hơn 12.000 tế bào/mm3, hoặc có sự hiện diện của hơn 10% bạch cầu trung tính chưa trưởng thành.

Có thể chẩn đoán bệnh nhân mắc SIRS khi trên bệnh nhân có hai triệu chứng trên trở lên.

Tổ chức nhiễm trùng huyết nhi quốc tế đã đề xuất một số thay đổi để phù hợp với các bệnh nhân nhi khoa.

Sốt và tăng bạch cầu là đặc điểm của các phản ứng giai đoạn cấp tính, trong khi tăng nhịp tim thường là dấu hiệu sớm của rối loạn huyết động lực. Thở nhanh có thể liên quan đến sự  tăng trao đổi chất do nhiễm trùng và viêm, nhưng cũng có thể là một dấu hiệu đáng ngại của việc tưới máu kém, dễ dẫn đến quá trình trao đổi kỵ khí trong tế bào.

Ở trẻ em, các tiêu chuẩn của SIRS được sửa đổi như  sau:

– Nhịp tim lớn hơn 2 lần độ lệch chuẩn so với mức bình thường theo tuổi trong trường hợp không có các kích thích như đau đớn và do sử dụng thuốc, hoặc ở trên cao liên tục từ 30 phút đến 4 giờ. Ở trẻ sơ sinh, tiêu chuẩn này cũng bao gồm nhịp tim thấp hơn phân vị thứ 10 về tuổi tác trong trường hợp không có kích thích phế vị, thuốc cao huyết áp, hoặc bệnh tim bẩm sinh hay trầm cảm dai dẳng không giải thích được.

– Nhiệt độ cơ thể thu được ở miệng, hậu môn, qua thăm dò bằng ống Foley, hoặc qua thăm dò bằng ống thông tĩnh mạch trung ương dưới 36oC hoặc lớn hơn 38.5oC. Nhiệt độ phải bất thường mới thỏa tiêu chuẩn SIRS ở những bệnh nhân nhi.

– Tần số hô hấp lớn hơn 2 lần độ lệch chuẩn so với mức bình thường theo tuổi hoặc cần thở máy mà không liên quan đến các bệnh thần kinh – cơ hoặc được áp dụng gây mê.

– Số lượng tế bào bạch cầu cao hay giảm so với độ tuổi và không liên quan đến hóa trị liệu, hoặc có hơn 10% dạng chưa trưởng thành của các nhóm khác.

Lưu ý rằng các tiêu chuẩn của SIRS rất không rõ ràng, và cần phải được xem xét một cách cẩn thận trên lâm sàng. Các tiêu chí này tồn tại chủ yếu nhằm phân loại khách quan hơn bệnh nhân bị bệnh nặng, do đó, các nghiên cứu lâm sàng trong tương lai có thể được chính xác hơn.

Khi hai hoặc nhiều hơn hai tiêu chí của hội chứng đáp ứng viêm hệ thống được đáp ứng mà không có bằng chứng của sự nhiễm trùng, bệnh nhân có thể được chẩn đoán đơn giản là “SIRS.” Bệnh nhân mắc SIRS và có các rối loạn chức năng cơ quan cấp tính có thể được gọi là “SIRS nghiêm trọng.”

NGUYÊN NHÂN

Các nguyên nhân của SIRS được phân loại do nhiễm trùng hoặc không do nhiễm trùng. Như trên, khi SIRS là do nhiễm trùng, nó được coi là nhiễm trùng huyết. Nguyên nhân không do nhiễm trùng của SIRS bao gồm chấn thương, bỏng, viêm tụy, thiếu máu cục bộ, và xuất huyết.

Các nguyên nhân khác gồm: các biến chứng của phẫu thuật, suy thượng thận, tắc mạch máu phổi, phình động mạch chủ nghiệm trọng, chèn ép tim, sốc phản vệ, dùng thuốc quá liều

Photobucket

ĐIỀU TRỊ

Nói chung, việc điều trị cho SIRS hướng về giải quyết các vấn đề cơ bản hay nguyên nhân gây bệnh (tức là dùng dịch thay thế phù hợp cho chứng giảm dung lượng máu, IVF / NPO cho viêm tụy, epinephrine/steroids/diphenhydramine cho sốc phản vệ). Selenium, glutamine, và axit eicosapentaenoic hiệu quả trong việc cải thiện các triệu chứng trên thử nghiệm lâm sàng. Các chất chống oxy hóa như vitamin E cũng có thể hữu ích.

BIẾN CHỨNG

SIRS được thường phức tạp do suy một hoặc nhiều cơ quan hoặc hệ thống cơ quan. Các biến chứng của SIRS gồm: tổn thương phổi cấp tính, tổn thương thận cấp, sốc, chứng rối loạn chức năng đa cơ quan.

Nguồn:

http://en.wikipedia.org/wiki/Systemic_inflammatory_response_syndrome

Read Full Post »

Phần hành chánh:
Họ tên BN: Nguyễn Công  T., tuổi: 53 , giới tính: nam
Địa chỉ: Hóc  Môn
Ngày nhập viện: 15/4/2012
Khoa: Ngoại TQ, buồng: 420
Lý do nhập viện: đau bụng

Phần bệnh sử:

Triệu chứng cơ năng:

Cách nhập viện 1 tuần, BN đau bụng tăng dần. Nôn sau ăn vài phút.

Cách nhập viện 2 ngày, BN đau dữ dội vùng quanh rốn, đau quặn liên tục, lan khắp bụng, không có tư thế giảm đau. BN đau ngày càng nhiều. BN không sốt. Tiểu tiện bình thường. BN chưa đại tiện 1 tuần. => cấp cứu 115

– Triệu chứng thực thể:

BN tỉnh, tiếp xúc được

Da niêm hồng

Sinh hiệu: mạch 80 lần/phút, nhiệt độ 37oC, huyết áp 140/80, nhịp thở 18 lần/phút

Tim đều, phổi trong

Bụng mềm, ấn đau, đề kháng (+)

– Cận lâm sàng:

* Công thức máu:

WBC   26.32 K/uL

Neu   23.92 K/uL

Neu%   91%

Lym%   3.8%

Mono   38K/uL

Hct   36.7%

MPV   9.2 fL

* X quang: bình thường

* Siêu âm: dịch ổ bụng lượng ít, vài quai ruột non phù nề – thành dày

* CT scan:

Ghi nhận dày thành lan tỏa nhiều quai ruột non, chỗ quai ruột dày nhất khoảng 11mm

Ghi nhận dày thành khu trú không đều đoạn đại tràng lên, chỗ dày nhất khoảng 14 mm

Dịch tự do trong ổ bụng lượng nhiều: dịch quanh gan, quanh lách, khoang Morrison, dọc rãnh đại tràng 2 bên, giữa các quai ruột, túi cùng bàng quang – trực tràng

Không thấy khí tự do trong ổ bụng

Không thấy hình ảnh bất thường mạch máu vùng bụng

Chẩn đoán trước mổ: viêm phúc mạc

Chẩn đoán sau mổ: viêm phúc mạc

Phương pháp mổ: cắt đoạn ruột non hoại tử

Trình tự phẫu thuật:

BN mê nội khí quản

Vào trocar rốn, đặt camera thám sát thấy đoạn ruột non ở hố chậu phải hoại tử kèm dịch đỏ máu.

Báo  BS cột 1 chuyển mổ hở

Rạch da đường trắng giữa dưới rốn, vào bụng thám sát thấy đoạn ruột non hoại tử dài 1.6m cách góc hồi manh tràng 10cm, quyết định kẹp cột gốc động mạch mạc treo ruột non hoại tử, cắt bỏ đoạn ruột bị hoại tử, kiểm tra đoạn ruột non còn lại hồng tốt, mang tràng, toàn bộ đại tràng bình thường

Nối 2 đầu ruột non kiểu tận tận 1 lớp bằng chỉ PDS 0000

Khâu mạc treo ruột non của đoạn nối

Dẫn lưu douglas

Đóng bụng 2 lớp

Lưu ý hậu phẫu tầm soát tim mạch và dùng thuốc chống đông

Diễn tiến từ lúc kết thúc cuộc mổ đến lúc thăm khám

Hậu phẫu ngày 1: BN tỉnh, tiếp xúc được, sinh hiệu ổn, tự thở tốt, băng vết mổ khô, bụng mềm, ấn đau vùng mổ, dẫn lưu  Douglas ra 40 ml dịch, tiểu qua sonde, gaz (-)

Hậu phẫu ngày 2: BN tỉnh, tiếp xúc tốt, bụng chướng đều, than đau vết mổ nhiều, da niêm hồng, không sốt

Hậu phẫu ngày 3: BN tỉnh, tiếp xúc tốt, bụng mềm, da niêm nhạt, vết mổ khô, Gaz (+)

Hậu phẫu ngày 4: BN tỉnh, tiếp xúc tốt, bụng mềm, hết chướng, vết mổ khô

Tiền căn:
Tai biến mạch máu não 6 năm trước, có điều trị 2 năm rồi tự ngưng

Thăm khám lâm sàng: hậu phẫu ngày 4 (19/4)

– Triệu chứng cơ năng:

BN còn đau vết mổ.

BN đau nhiều khi thay đổi tư thế, chưa đi lại được, ăn uống kém.

BN trung tiện được, đại tiện ra phân lỏng vàng.

– Khám toàn thân:

BN tỉnh, tiếp xúc tốt

Da niêm hồng, không vàng da, vàng mắt

Không phù, hạch ngoại biên không sờ chạm

Dấu hiệu sinh tồn:

Mạch: 80lần/phút, nhiệt độ: 37oC, huyết áp: 110/70 mmHg, nhịp thở: 20 lần/phút

– Khám ngực:

Ngực cân đối, không có vết mổ cũ

Gõ trong đều 2 bên, rung thanh đều 2 bên

Rì rào phế nang êm dịu 2 bên

Tim đều,  tần số: 80 lần/phút

– Khám bụng:

Bụng mềm, ấn đau vùng mổ, di động theo nhịp thở.

Vết mổ khô, không chảy dịch.

Dẫn lưu Douglas ra 50ml dịch đỏ vàng, trong, chân ống dẫn lưu khô.

Photobucket

Đặt vấn đề

BN nam, 53 tuổi, nhập viên vì đau bụng, được phẫu thuật cắt đoạn ruột non hoại tử  với chẩn đoán viêm phúc mạc, hậu phẫu ngày 4

– TCCN:

Đau vết mổ, đau nhiều khi thay đổi tư thế, chưa vận động được.

– TCTT:

Sinh hiệu ổn

Vết mổ sạch khô, không chảy dịch. Chân ống dẫn lưu khô.

Bụng mềm, ấn đau vùng mổ.

Chẩn đoán lâm sàng

Hậu phẫu ngày 4 do phẫu thuật cắt đoạn ruột non hoại tử  với chẩn đoán viêm phúc mạc. Tình trạng BN ổn.

Cận lâm sàng  (18/4)

* Siêu âm  Doppler màu tim

Photobucket

Buồng tim không dày dãn

Chức năng tâm thu thất trái EF = 66%

Không rối loạn vận động vùng

Hở van 2 lá 1/4. Dày van 2 lá nhẹ

Không tăng áp  động mạch phổi PAPs = 21 mmHg

Không tràn dịch màng ngoài tim

* Công thức máu

WBC   11.0 K/uL

Neu   8.8 K/uL

Neu%   80.0%

Lym%   13.6%

RBC   2.99   M/uL

Hgb   9.1 g/dL

Hct   25.3%

MCHC   35.9 g/dL

Read Full Post »

Older Posts »