Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘tổ 2’

Mặc dù từ lâu CT là trụ cột cho hình ảnh viêm tụy cấp và các biến chứng của nó,nhưng MRI là một thay thế tuyệt vời với hình ảnh modality.MRI là một thay thế khả thi trong các trường hợp mà CECT bị chống chỉ định, chẳng hạn như ở những bệnh nhân bị dị ứng với chất cản quang hoặc suy thận. (Xem hình ảnh dưới đây).

image

Viêm tụy tập trung vào đầu tụy. Đầu tụy phù nề kèm với hiện tượng viêm quanh tụy và tụ dịch.

image

Áp xe tụy-Một ổ rộng, không đồng nhất ,có giới hạn tương đối rõ chứa những bóng hơi ở dưới đầu tụy.Áp xe này đã được dẫn lưu thành công và ra dưới da thông qua một ống thông Pigtail 12Fr.

image

Viêm tụy cấp.Tuyến tụy hoại tử. Khoảng 50% của tuyến tụy không hiển thị tăng độ sáng sau khi uống chất cản quang.

Uống chất cản quang có những vòng nối gadolinium có thể được sử dụng để đánh giá sự hoại tử của tuyến tụy. Chất lượng hình ảnh của phần bụng trên được nâng cao hơn nữa nếu sử dụng các cuộn dây bề mặt theo từng giai đoạn và kỹ thuật ngăn chặn chất béo.

Những ảnh hưởng có hại của chuyển động sinh lý có thể được giảm bằng cách sử dụng cực nhanh chuỗi xung T2-weighted , chẳng hạn như single-shot fast spin-echo hoặc chuỗi HASTE. Sự hình thành hình ảnh dưới 1s cung cấp hình ảnh có giá trị chẩn đoán ngay cả khi bệnh nhân không hợp tác hoặc thở nhanh. Những chuỗi này cũng được sử dụng thường xuyên để mô tả đường mật trong chụp mật tụy cộng hưởng từ (MRCP). Tuyến tụy bình thường thể hiện cường độ tín hiệu khá cao trên hình ảnh T1-weighted ngăn chặn chất béo.

Thay đổi hình thái của viêm tụy cấp thì tương tự như trên CT và MRI.

Tuyến tụy có thể được mở rộng tập trung một chỗ (thường là người đứng đầu tụy) hoặc lan rộng. Những thay đổi của hiện tượng viêm cấp xuất hiện như sợi cường độ tín hiệu thấp ở vùng mỡ quanh tụy.

Các biến chứng của viêm tụy cấp tính cũng có thể được xác định. Xuất huyết có đặc trưng là rút ngắn thời gian T1 hoặc có cường độ tín hiệu cao trên chuổi T1-weighted . Sự tụ dịch quanh tụy, nang giả tuy, và áp xe tụy được công nhận bởi cường độ tín hiệu cao trên chuỗi T2-weighted. MRI cũng có thể tốt hơn so với CT trong việc phát hiện các vùng vô trùng của tụy hoại tử mà xuất hiện trên CT chỉ đơn giản là một nang giả.

Chất cản quang có gadolinium có thể dẫn đến sự phát triển của hiện tượng xơ hóa hệ thống nephron (NSF) hoặc (NFD). Căn bệnh này đã xảy ra ở những bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn trung bình đến giai đoạn cuối sau khi được cho chất cản quang gadolinium để tăng cường quét MRI hoặc MRA.

Tính đến cuối tháng 12 năm 2006, FDA đã nhận được báo cáo của 90 trường hợp như vậy của NSF / NFD. Trên thế giới, hơn 200 trường hợp đã được báo cáo, theo FDA. NSF / NFD là một bệnh suy nhược và đôi khi gây tử vong. Đặc điểm bao gồm các mảng màu đỏ hoặc đen trên da, đốt, ngứa, sưng, cứng, và siết chặt của da, đốm màu vàng trên lòng trắng của mắt, sự cứng đờ của các khớp với việc di chuyển khó khăn, làm thẳng cánh tay, bàn tay, chân, hoặc bàn chân; đau sâu trong xương hông, xương sườn và yếu cơ.

Độ tin cậy:
Trong một nghiên cứu nhỏ của Saifuddin , MRI được nhận thấy có giá trị tương đương cới CECT trong việc đánh giá vị trí và mức độ thay đổi của viêm tụy cũng như sự tụ dịch. Ngoài ra, MRI còn được nhận thấy là tương đương trong việc đánh giá mức độ hoại tử của tuyến tụy. Chalmers và các cộng sự đã chỉ ra rằng MRI thì hiệu quả hơn so với CECT để giúp mô tả sự tụ dịch và các trường hợp chứng minh có kèm sỏi mật .

Âm tính giả/dương tính giả:
Trong các trường hợp nhẹ của viêm tụy cấp, tuyến tụy có thể xuất hiện hoàn toàn bình thường trên MRI. MRI cũng bị giới hạn trong việc phát hiện khí và sự vôi hoá.

http://emedicine.medscape.com/article/371613-overview#a21

Read Full Post »

 CT TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ DẠ DÀY

CT được sử dụng chủ yếu ngoài phẫu thuật để xác định giai đoạn và sự di căn của ung thư biểu mô dạ dày. Thông tin này rất quan trọng để quyết định giữa phẫu thuật làm giảm nhẹ và phẫu thuật triệt để bệnh (tức là, xác định bệnh nhân sẽ không có lợi nếu phẫu thuật triệt để ). Ngoài ra, CT được sử dụng để theo dõi phản ứng của bệnh nhân trong quá trình điều trị .

Việc phát hiện ung thư dạ dày được cải tiến bằng cách sử dụng dãy lát cắtmỏng và xoắn ốc hoặc nhiều bộ phận tách sóng CT . Khi chuẩn trực mỏng được sử dụng, có thể cho hình ảnh của dạ dày gần như đẳng hướng , cho phép cải tiến nhiều mặt phẳng chất lượng cao và tái lập hình ảnh dạ dày 3 chiều.Thuốc cản quang tĩnh mạch được sử dụng, cùng với nước hoặc chất khí như là một tác nhân âm tính trong lòng ống tiêu hóa  (kết quả được nhìn thấy trong hình dưới đây). Tầm nhìn được cải thiện giúp nhìn thấy được khối u ở tâm vị và ngoại biên dạ dày.

image

Dạ dày phình to khi sử dụng nước như một tác nhân âm tính trong ống tiêu hóa . Kết quả của sự kiểm tra này là bình thường.

CT xoắn ốc cho phép đốI vớI kỹ thuật hai pha .Pha động mạch sớm được sử dụng để đánh giá sự dày lên của thành dạ dày,sau đó pha tĩnh mạch cửa được sử dụng để đánh giá sự di căn đến nhu mô gan .

Chụp CT có thể hiển thị như sau:

· Khối Polyp có hoặc không có loét.

· Thành trung tâm dày lên với niêm mạc không đều hoặc bị loét

· Thành dạ dày dày lên và mất các nếp niêm mạc bình thường (tổn thương thâm nhập)

· Thâm nhập vào trung tâm thành dạ dày (xem hình dưới đây)

image

Ung thư biểu mô ở bờ cong nhỏ. Lưu ý sự dày lên ở trung tâm của thành vì các mảng của khối u.

· Sự dầy lên của thành dạ dày và dấu tương phản  tiến triển ( điển hình cho các tổn thương u cứng )

· Ung thư tuyến nhầy, có độc lực thấp do có lượng chất nhầy dồi dào và có thể bao gồm cả sự vôi hoá.

Giai đoạn T

Sự di căn sâu của khối u không được đánh giá chính xác với CT.

Sự di căn khối u ở lớp mỡ quanh dạ dày được xem như là sợi mô mềm. Các nốt nhỏ từ 4 đến 8 mm có thể quan sát được. Chúng có thể kết tụ vào những tấm của khối u trong các trường hợp khó.

Sự lan rộng trực tiếp của khối u tương đối phổ biến. Tụy bị xâm lấn thông qua túi ít hơn ; đại tràng ngang,thông qua dây chằng dạ dày – ruột ; và gan,thông qua dây chằng dạ dày – gan.

Di căn theo chiều dọc đến thực quản ở xa xảy ra ở 60% bệnh nhân ung thư biểu mô tâm vị (xem hình bên dưới ). Tuy nhiên, trường hợp di căn xuống tá tràng có liên quan chỉ 5-20% ung thư hang vị.

image

Ung thư biểu mô tâm vị. Lưu ý ung thư biểu mô di căn đến gan của tâm vị. Lưu ý sự di căn gan.

image

Sự mở rộng của khối u đến thực quản xa.

Nhìn chung,sự chính xác trong xác định giai đoạn T nhờ CT là khoảng 66%.

Giai đoạn N

Di căn đến hạch bạch huyết xảy ra ở khoảng 80% bệnh nhân ung thư dạ dày (xem hình bên dưới ). Tần số có liên quan đến kích thước và độ sâu của khối u ;các hạch khu trú quanh dạ dày được nêu ra trước tiên, sau đó là các hạch vùng ( bụng, gan, dạ dày , tủy lách ) và hạch xa (trên xương đòn trái và nách ) .

image

Ung thư biểu mô ở thân dạ dày liên quan đến các bệnh lý hạch bạch huyết vùng và cổ trướng.

image

Mở rộng các hạch bạch huyết ở rãnh ngang gan, cổ trướng, và có dính mạc nối .

CT mô tả 75% hạch có đường kính lớn hơn 5 mm, nhưng nó không mô tả khối u trong hạch có kích thước bình thường. CT không có ích trong việc phân biệt hạch lan rộng do những thay đổi của phản ứng hay do khối u.

Hạch khu trú ( N1 ) nằm ở vùng trước môn vị , dây chằng dạ dày – gan và dây chằng dạ dày -kết tràng. Hạch này lấy ra bằng phương thức cắt dạ dày tiêu chuẩn. Hạch thuộc vùng ( N2 ), nằm ở rãnh ngang của gan, dây chằng gan – tá tràng, và vùng quanh tuyến tụy, không được loạI bỏ bằng phương thức cắt dạ dày ; do đó, các phát hiện này quan trọng hơn.

Giai đoạn M:

Vì tĩnh mạch cửa dẫn lưu cho dạ dày,nên gan là nơi phổ biến nhất đốI với sự di căn theo đường máu(xem hình đầu tiên bên dưới ). Những nơi ít phổ biến thường là phổi ( xem hình thứ hai bên dưới ), tuyến thượng thận, và thận. Di căn lên não và xương là hiếm.

image

Các hạch ở trục của bụng cỡ 8-12 mm và có nguồn gốc từ ung thư biểu mô tâm vị. Lưu ý di căn đến gan không đều và nang tròn liền kề.

image

Sự di căn lên phổi và tràn dịch màng phổi trái từ ung thư biểu mô dạ dày.

Sự di căn đến màng bụng và mạc nối thì phổ biến ở ung thư dạ dày ác tính. Chúng bao gồm các nốt, tụ dịch khu trú, sự dày lên không đều và hóa sợi của màng treo ruột và mạc nối. Cổ trướng và tắc ruột có thể xảy ra.

Ung thư biểu mô dạ dày là khối u chính phổ biến nhất để di căn đến buồng trứng. Di căn buồng trứng này thường hai bên và được gọi là u Krukenberg.

Mức độ tin cậy:

Đối với tỷ lệ chính xác trong việc quét CT (đối với những người trong EUS), cần xem siêu âm.

CT có một số khó khăn. Một khối giả như là kết quả của đường tiếp giáp bình thường giữa dạ dày thực quản có thể được nhìn thấy,dưới sự căng phồng của dạ dày có thể mô phỏng là thành dày, các tổn thương T2 và T3 có lẽ khó khăn để phân biệt.

Ngoài ra,sự biến mất lớp mỡ giữa thành dạ dày và thùy trái của gan có thể được nhìn thấy. Lớp mỡ giữa khối u và tuyến tụy bị mất có thể do một phản ứng viêm. Ở những bệnh nhân bị suy nhược, việc mất lớp mỡ có thể cho thấy sự di căn trực tiếp đến cơ quan.

Những hạch nhỏ có thể chứa khối u, và những hạch lớn có thể do những nguyên nhân gây viêm. Các hạch quanh dạ dày có thể không quan sát được nếu dạ dày không được căng.

CT có lẽ thất bại khi mô tả mạc nối nhỏ và các chất lắng đọng ở màng bụng ; chất lắng đọng trong xương chậu nhỏ có thể không được nhận thấy.

http://emedicine.medscape.com/article/375384-overview#a20

Read Full Post »

HÀNH CHÍNH:

Họ và tên bệnh nhân : Huỳnh Thế P.        -40 tuổi      Giới : nam

Nghề nghiệp : buôn bán

Ngày nhập viện : 10g17p 26/2/2012

LÝ DO NHẬP VIỆN: đi tiêu ra máu

BỆNH SỬ :

Cách nhập viện 10 ngày, bệnh nhân (BN)  đi tiêu ra máu,máu màu đỏ tươi, máu không lẫn với phân,phun ra khi BN rặn nhiều và sau khi đi tiêu xong vẫn còn nhỏ ít máu, lượng ít . Ngoài ra BN có một khối sa nằm ở hậu môn xuất hiện thường trực, mềm, khô,kích thước cỡ trái tắc, màu đỏ,vùng quanh hậu môn không ngứa. BN không đẩy khối đó lên được. BN còn thấy choáng váng, mệt mỏi.=> nhập viện 115.

Trong thời gian này, BN không tiêu chảy, không táo bón, đi tiểu vàng trong.

Diễn tiến từ lúc nhập viện đến lúc khám:

Tình trạng lúc nhập viện:

Sinh hiệu ổn: M 80l/p, HA:130/80 mmHg, T:37oC, NT: 22l/phút

Niêm hồng nhạt, chi ấm, mạch rõ.BN không đi cầu ra máu nữa nhưng vẫn còn khối sa ở hậu môn

Bn còn thấy hơi choáng váng và mệt mỏi.

TIỀN CĂN :

1.   Bản thân:

CáchNV10 năm, Bn đi khám phát hiện trĩ nội độ 2 nhưng không điều trị.

2.   Gia đình : chưa phát hiện bất thường.

KHÁM THỰC THỂ (9g sáng ngày 29/2)

1.     Tổng trạng :

–           Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, thể trạng trung bình.

–           Sinh hiệu: Mạch 80lần/ phút, Nhiệt độ: 37oC, Nhịp thở: 20lần/ phút, HA: 110/80 mmHg

–           Niêm hồng nhạt

–           Không phù, tuyến giáp không to, hạch ngoại vi không sờ chạm , không vàng mắt , không vàng da.

2. Khám ngực:

Lồng ngực cân đối, di động theo nhịp thở. Mỏm tim ở khoang liên sườn 4 đường trung đòn trái

Nhịp tim đều T1, T2 rõ, không âm thổi bất thường.

Rì rào PN êm dịu,không ran

3. Khám bụng:

Bụng cân đối, di đông theo nhịp thở, không sẹo mổ, không u cục bất thường.

Bụng mềm,gan lách không sờ chạm.

Chạm thận (-)

4.  Khám hậu môn, trực tràng:

khám thấy búI trĩ có niêm mạc màu đỏ sẫm   quanh hậu môn, khô,thăm trực tràng có 1 búi trĩ vị trí 6 giờ, kích thước 1 cm, mềm,  không đau,ấn xẹp., không thấy khối u, Rút găng có ít phân màu vàng.

5. Khám các hệ cơ quan khác: Chưa ghi nhận bất thường.

TÓM TẮT BỆNH ÁN:

BN nam,40 tuổi, nhập viện vì đi tiêu ra máu :

TCCN:  Tiêu ra máu và có khối sa ra ngoài từ hậu môn

Choáng váng, mệt mỏi

TCTT:    Sinh hiệu: ổn. HA: 140/90 mmHg

Niêm hồng nhạt, móng trắng, có sọc, mất bóng.

Khám hậu môn trực tràng: 1 búI trĩ  quanh hậu môn và có 1 búi trĩ vị trí 6 giờ

TC:         Tăng huyết áp không điều trị thường xuyên.

BN đã được truyền 4 đơn vị máu.

ĐẶT VẤN ĐỀ :

1.   HC xuất huyết tiêu hóa dưới

2.   Hc thiếu máu

3.   Trĩ hỗn hợp

CHẨN ĐOÁN SƠ BỘ: Trĩ hỗn hợp biến chứng xuất huyết hiện ổn, thiếu máu

CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT:

U trực tràng + trĩ hỗn hợp

U đại tràng + trĩ hỗn hợp

Sa trực tràng

BIỆN LUẬN:

BN có tiền căn bị trĩ nội độ 2 cách đây 10 năm,đi tiêu ra máu đỏ tươi lượng ít đặc biệt máu không lẫn với phân phù hợp tính chất tiêu ra máu của trĩ,kèm với dấu thiếu máu và khi khám thấy khốI màu đỏ sẫm  ở hậu môn và khô,không đau nên nghĩ đây là do trĩ ngoạI và chưa bị thuyên tắc.Ngoài ra khám trực tràng có búi trĩ ở vị trí 6g Vì vây nghĩ nhiều đến trĩ hỗn hợp gây xuất huyết tiêu hóa dưới.NgoàI ra bệnh nhân này có dấu thiếu máu có thể là biến chứng của trĩ do không điều trị 10 năm nay.

-Bn có tiêu phân máu đỏ tươi,dấu thiếu máu  nên có thể nghĩ đến do u trực tràng hay u đại tràng chảy máu nhưng do thăm khám hậu môn trực tràng không có u và bn không có hội chứng cận u(sụt cân,chán ăn mệt mỏi) hay rối loạn thói quen đi cầu nên ít nghĩ đến.

-Ít nghĩ đến sa trực tràng vì bệnh nhân không có rốI loạn thóI quen đi cầu ,khốI sa ở đây niêm mạc đỏ sẫm khô và không có nhiều vòng lớp niêm mạc xếp hình đồng tâm.

CẬN LÂM SÀNG :

CTM

Siêu âm

Nội soi HM-TT

X quang

ECG

Các kết quả cận LS đã có:

Công thức máu:

· Neu : 66.7 % tăng

· Lym: 19.4 % giảm

· Hgb : 9g/dL giảm

· Hct: 31.7 % giảm

· MCV: 67.2 fL giảm

· MCH: 21.0 pg giảm

· MCHC :31.2 g/dL giảm

Chức năng đông máu:

· INR: 1.11 giảm

Sinh hóa: các giá trị nằm trong giới hạn bình thường.

ECG :nhịp xoang

Nội soi dạ dày –tá tràng: Loét mặt trước hành tá tràng.Sang thương giả túi thừa ở mặt trước hành tá tràng.Clo test(+)

image

Nội soi đại tràng :

· Thăm dò HM-TT: cơ vòng HM co thắt tot.

· HM-TT: không viêm loét

· Trĩ ngoại + trĩ nội tạo thành vòng quanh hậu môn,hiện tại sung huyết ,không chảy máu.

· Kết luận: trĩ hỗn hợp

image

Biện luận:

Công thức máu cho thấy bn có tình trạng thiếu máu phù hợp với lâm sàng cùng với kết quả nội soi đại–trực tràng cho thấy trĩ hỗn hợp và không có u ở đại-trực tràng.Như vậy có thể chẩn đoán đây là trĩ hỗn hợp

CHẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH:

Trĩ hỗn hợp có biến chứng xuất huyết ,thiếu máu mãn/ loét tá tàng.

Read Full Post »

1.Hành chính:
Bệnh nhân: Huỳnh Thế P. – tuổi:40 – Giới tính: nam
Địa chỉ: Hồ Chí Minh

Khoa : Ngoại Tổng quát

Lí do NV: tiêu phân máu

2.Tóm tắt bệnh án
Tóm tắt bệnh sử :
Bệnh sử: Cách NV 10 ngày, Bn đi tiêu ra máu,màu đỏ tươi ,máu ra sau phân ,máu chảy nhỏ giọt, lượng ít,kèm choáng váng, mệt mỏi.BN có búi trĩ ở hậu môn 10 năm nay,không đẩy lên được,không đau hay chảy dịch bất thường.
Khám:
-Toàn thân:

  • BN tỉnh, tiếp xúc tốt, thể trạng trung bình
  • Sinh hiệu ổn.
  • Da niêm nhạt.

-Khám ngực: tim đều, phổi trong
-Khám bụng :Bụng mềm,di động theo nhịp thở, không điểm đau khu trú.

-TR: búi trĩ tao vòng quanh hậu môn,sờ vào không đau,không chảy dịch,không sờ chạm u sùi,rút găng thấy có máu bầm.

Lý do chỉ định phẫu thuật, thủ thuật:

-Theo y lệnh của BS điều trị, thực hiện thủ thuật để xac định búi trĩ  đồng thời tìm tổn thương trực tràng

3.Mô tả
Loại thủ thuật: nội soi tiêu hóa dưới
Ngày giờ thực hiện: 14h ngày 27/2/2012
Chuẩn bị dụng cụ
-Dụng cụ: màn hình, camera, kính soi.

-Ngâm dụng cụtrong dd khử khuẩn ANIOSYME khoảng 15’ trước khi tiến hành thủ thuật
-Gel bôi trơn Xyclocaine 2%, bơm tiêm có thuốc giảm đau

clip_image002
Chuẩn bị BN
-Bn nằm nghiêng , bộc lộ hậu môn
-Ngón tay trái Bn được đặt đồ bấm để kiểm tra  mạch, huyết áp ,SpO2 thường xuyên trong quá trình thực hiện thủ thuật
Tiến hành thủ thuật

-Đầu tiên tiêm thuốc giãn cơ và thuốc an thần nhẹ cho bệnh nhân giúp bệnh nhân đỡ đau và thuận lợi cho việc nội soi

-Phủ Gel bôi trơn lên ống nội soi
-Bác sĩ kêu BN rặn nhẹ đồng thời đưa ống soi đã được bôi trơn qua hậu môn đến trực tràng.

-Đưa ống soi qua hậu môn từ từ.

-Tiếp tục đưa sâu  vào , vừa đưa ống soi vừa bơm hơi vào lòng đại tràng. Trong khi thực hiện phải lưu ý quan sát nét mặt bệnh nhân, kiểm soát đầu ống soi qua hình ảnh trên màn hình camera.

– Nếu BN không hợp tác hay bụng gồng thì hướng dẫn BN nằm đúng tư thế, hít thở đều.

-Trước khi rút ống soi, từ từ khảo sát lại toàn bộ đại tràng, trực tràng
-Rút ống soi và ngâm rửa bộ dụng cụ.
Kết quả:

Thăm HMTT: Cơ vòng HM co thắt tốt
HM-TT: không viêm loét

Vùng quanh hậu môn: trĩ ngoại và trĩ nội tạo thành vòng quanh hậu môn,hiện tại sung huyết không có chảy máu.

Kết luận : trĩ hỗn hợp.

image

4.Bài học, kinh nghiệm rút ra

· Bn được đặt đồ bấm kiểm soát mạch, HA, SpO2 để xử lí kịp thời các tình trạng Bn bị shock
Cho bn nghỉ ngơi sau thủ thuật để BN khỏe hẳn vì bệnh nhân có thể bị choáng sau thủ thuật

· BN phải nhịn ăn ít nhất 12 giờ ,chỉ ăn thức ăn lỏng trước ngày thực hiện nội soi để tránh tạo phân

· Sáng ngày nội soi, bệnh nhân được uống dung dịch Fortans nhằm để bệnh nhân đi tiêu hết phân trong đại tràng, làm sạch quan trường nội soi.

· Nếu BN dị ứng với Fortrans hoặc không dùng được thuốc, phải tiến hành thụt tháo cho BN trước khi nội soi.

Read Full Post »

1-Thông tin chung

Ngày trực: 29/2/2012

Bác sĩ trực: Bs Thọ, Bs Nghĩa

Các ca mổ trong tua trực:

· 1 viêm ruột thừa cấp

· 1 ca thủng tạng rỗng

2-Tường trình ca tiễu phẫu:

Họ tên: Nguyễn Hoàng N. -35 tuổi – Nam

Cơ chế chấn thương: tai nạn giao thông té xuống đường

Mô tả vết thương: Vết thương ở cẳng chân phải , dài khoảng 7cm, khâu 6 mũi

clip_image002

3-Tường trình ca lâm sàng

Họ tên: Thái Hữu T. – Nam – 55 tuổi

Giờ nhập viện: 23h 1/03/2012

Lý do nhập viện: đau bụng

Tóm tắt bệnh sử :

– Cách nhập viện 3 giờ, bệnh nhân đau đột ngột vùng thượng vị , cường độ dữ dội và liên tục, lan hạ sườn trái, không tư thế giảm đau,đau tăng khi thở sâu, sốt (không rõ nhiệt độ), không nôn,tiêu tiểu bình thường.Cơn đau ngày càng tăng dần=> nhập BV 115

Tiền căn: Chưa ghi nhận bệnh lý nội, ngoại khoa.

Thăm khám lâm sàng:

BN tỉnh, tiếp xúc được, thể trạng trung bình.

Sinh hiệu: Mạch: 86 l/p   Nhiệt độ: 38 0C

Huyết áp: 90/60 mmHg           Nhịp thở: 25 l/ p

Da niêm hồng , không vàng mắt, vàng da, không dấu xuất huyết, không phù.

Khám ngực:

  • Tim: T1, T2 đều, rõ
  • Phổi: Rì rào phế nang êm dịu, không ran bệnh lý.

Khám bụng: 

Bụng chướng nhẹ, kém di động theo nhịp thở, không sẹo mổ cũ.
Bụng gồng cứng.

Nhu động ruột 3l/ph.

Các cơ quan khác: chưa ghi nhận bất thường

Tóm tắt kết quả cận lâm sàng:

Công thức máu:

WBC  14.35 k/ul
Neu 11.91 k/ul    %Neu   83 %
Sinh hóa:  chưa ghi nhận bất thường

Đông máu: chưa ghi nhận bất thường

Siêu âm bụng: Ruột căng chứa đầy khí, dạ dày ứ đọng nhiều dịch

clip_image003

X- quang bụng dứng không sửa soạn:

clip_image005

Chẩn đoán trước phẫu thuật: Viêm phúc mạc do thủng tạng rỗng

Tường trình phẫu thuật:

· Vào bụng đường trắng giữa trên và dưới rốn

clip_image007

· Ổ bụng dơ, có nhiều mủ và giả mạc khắp ổ bụng, cấy mủ, làm kháng sinh đồ
Dạ dày thủng 1 lỗ d#1cm trên nền u sượng cứng tại môn vị, gửi sinh thiết

clip_image008

· Khâu lỗ thủng dạ dày, đắp mạc nối

clip_image009

· Nối vị tràng

clip_image010

· Rửa bụng
Dặt dẫn lưu HCP và túi cùng Douglas
Đóng bụng mũi rời

clip_image012

Chẩn đoán sau phẫu thuật: Viêm phúc mạc do thủng dạ dày

4-Kinh nghiệm hay bài học rút ra từ tua trực:

· Khi bn đến trể hay bn già yếu,phụ nữ sinh đẻ nhiều thì khi khám không thấy co cứng thành bụng thay vào đó là cảm ứng phúc mạc.

· Cần khai thác tiền căn xem bn có bị lóet dạ dày tá tràng trước đó không để biết nguyên nhân gây thủng.

· Cần khai thác xem bn có bí trung đại tiện không do viêm phúc mạc gây liệt ruột.

· Nôn ra máu hiếm gặp ,nếu có thì thường gặp trong trường hợp ổ loét đối nhau.

Read Full Post »

Xoắn đại tràng-Bệnh học

Read Full Post »

Tăng áp lực tĩnh mạch cửa-Bệnh học

Read Full Post »

Older Posts »