Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘nguyễn thái minh tuyền’

Tắc ruột non-Bệnh học

Read Full Post »

I. PHẦN HÀNH CHÍNH:

Họ tên BN: Phạm Văn M.       Tuổi: 57          Giới tính: Nam

Ngày NV: 15/06/2012

Lý do nhập viện: đau bụng

II. BỆNH SỬ

Cách nhập viện 3 tháng, BN đau âm ỉ thượng vị, HSP, không lan, khởi phát khi đang nghỉ ngơi, không tư thế giảm đau. BN đi tiêu phân có máu, tiểu bình thường, không sốt, không buồn nôn, không nôn.

Cách nhập viện 1 ngày, BN đau tăng với vị trí và tính chất tương tự, đi tiêu phân đen sệt lượng nhiều-> nhập viện BV 115. BN sụt 15 kg trong 3 tháng

III. TIỀN CĂN

-Bản thân:

Ngoại khoa: Cách 4 năm mổ u đại tràng BV Triều An

Nội khoa: trĩ nội độ II

Dị ứng: chưa ghi nhận dị ứng thuốc, thức ăn

-Gia đình: chưa ghi nhận bất thường

IV. KHÁM THỰC THỂ

-Tổng trạng:

BN tỉnh tiếp xúc tốt

BN thể trạng trung bình

Sinh hiệu: mạch: 82l/p, HA: 120/70mmHg, nhịp thở: 20l/p, nhiệt độ: 370C

Da niêm nhạt

Củng mạc mắt và niêm mạc đáy lưỡi không vàng

Không phù, không dấu xuất huyết dưới da

Hạch ngoại biên không sờ chạm

-Khám ngực: lồng ngực cân đối di động theo nhịp thở, không sẹo mổ cũ, khoang liên sườn không giãn, không dấu sao mạch. Rung thanh đều đối xứng 2 bên, không có ổ đập bất thường. Gõ trong. Rì rào phế nang êm dịu, không tiếng rale bệnh lý. Nhịp tim đều 80l/p, T1 T2 rõ, không âm thổi bệnh lý.

-Khám bụng: bụng cân đối, di động theo nhịp thở, không tuần hoàn bàng hệ, sẹo mổ cũ dài 20cm đường trắng giữa. Ấn đau thượng vị và hạ sườn P. Sờ chạm khối mấp mé bờ sườn P, d#4x6cm, không di động, mật độ mềm, giới hạn dưới rõ, ấn đau nhẹ. Gan lách không sờ chạm. Gõ trong. Nhu động ruột 3l/p.

-Khám cơ quan khác: chưa ghi nhận bất thường

V. CẬN LÂM SÀNG

-Công thức máu:

+RBC:                  2,45

+Hgb:                     6,6

+Hct:                      20

+WBC:                   9,4

+Neu%:                82,5

-Siêu âm :

+Gan: cấu trúc thô, bờ kém đều, 2 thùy gan không to.

+Tụy: hạn chế khảo sát do hơi. Lách to, d # 140 mm.

+Thận trái có nang d # 15 mm, không sỏi, không ứ nước.

+Đại tràng lên góc gan thành dày tăng sinh mạch máu, d # 100, khẩu kính 60 mm, có khí trung tâm.

Kết luận: Theo dõi xơ gan, u đại tràng góc gan. Nang thận T. Lách to.

-CT scan: Thương tổn dạng choán chỗ 1 đoạn hồi tràng lên và đại tràng góc gan, d# 10 x 7.5 x 7.5 cm. Khả năng xâm lấn thanh mạc dính vài quai ruột non kế cận. Vài hạch mạc treo lân cận # 10 mm. Nang thận T, d#2.1 x 1.7 cm.

VI. TÓM TẮT BỆNH ÁN

BN nam, 57 tuổi, nhập viện vì đau bụng có tiền căn mổ u đại tràng (4 năm), trĩ nội độ II

Triệu chứng cơ năng: đau thượng vị và hạ sườn P, đi tiêu phân đen đôi khi có máu

Triệu chứng thực thể: Hội chứng thiếu máu, hội chứng xuất huyết tiêu hóa, sờ chạm khối ở HSP

Read Full Post »

Xương thuyền là 1 trong 8 xương cổ tay. Các xương cổ tay được sắp xếp thành 2 hàng. Xương thuyền là quan trọng đối với chức năng bình thường & biên độ dao động của khớp vì nó đóng vai trò liên kết giữa 2 hàng xương cổ tay. Trong số tất cả các xương cổ tay thì xương thuyền là xương thường bị gãy nhất. Gãy xương thuyền có thể xuất hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau bao gồm chấn thương trong thể thao và đụng xe.

Tuy nhiên bên cạnh đó thường gặp nhất là: một người té mà chống tay xuống đất. Thường lúc đầu bệnh nhân rất coi thường chấn thương. Một khi triệu chứng đau và sưng cải thiện thì bệnh nhân thường nghĩ chấn thương chỉ là bong gân cổ tay mà thôi. Và vì vậy mà chẩn đoán thường chậm trễ từ vài tuần đến vài tháng.

Những vấn đề xảy ra đối với gãy xương thuyền là :

+ Trong nhiều thập kỉ qua gãy xương thuyền vẫn còn là một thách thức đối với nhiều bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình có kinh nghiệm nhất.

+ Xương là một cấu trúc sống vì thế mà xương cần cung cấp chất dinh dưỡng ổn định để duy trì hoạt động bình thường. Khi nguồn cấp máu cho xương giảm đi thì xương trở nên giòn, dễ gãy, yếu. Xương thuyền vốn có nguồn cấp máu kém. Khi xương thuyền bị gãy thì nguồn cấp máu cho xương thuyền có thể bị suy giảm, thì tình trạng này sẽ đặt xương thuyền trước nguy cơ không liền xương.

+ Ngoài ra, 1 phần xương thuyền bị gãy có thể bị hoại tử (hoại tử vô mạch). Nếu gãy xương thuyền không lành 1 cách bình thường thì 1 dạng viêm khớp có thể xảy ra đưa đến đau, giới hạn về biên độ cử động của cổ tay. Tình trạng mà xương thuyền bị giảm chức năng do bị hoại tử gọi là gãy xương thuyền tiến triển do xương không liền.

Gãy xương thuyền được chẩn đoán bằng hỏi bệnh sử, khám thực thể, chụp Xquang. Trong 1 vài trường hợp thì phim Xquang chụp ngay sau chấn thương có vẻ bình thường và việc chẩn đoán có thể bị chậm sau 2-3 tuần chỗ gãy mới rõ trên XQuang . Cả chụp Ctscan & MRI có thể có giá trị để đánh giá những điểm khác nhau của gãy xương thuyền. Chẩn đoán và điều trị sớm là quan trọng để có kết quả tối ưu. Những triệu chứng của gãy xương thuyền là: đau, sưng, ấn đau vùng cổ tay, không có biến dạng rõ ràng vì thế mà gãy xương thuyền có thể nhầm lẫn với bong gân cổ tay nên bác sĩ phải hỏi bệnh sử tỉ mỉ về cơ chế gay chấn thương & cần phải khám lâm sàng thích hợp. Bác sĩ nên tìm xem có dấu ấn đau ở hõm lào giải phẫu không.

Các phương pháp điều trị:

+ Phương án điều trị tùy thuộc vào độ nặng  của gãy xương trên phim Xquang.

+ Tình trạng bệnh nhân

+ Mức độ hoạt động của bệnh nhân

+ Mong muốn của bệnh nhân.

Những bệnh nhân mà gãy xương thuyền không di lệch thì có thể đều trị mà không cần mổ: bất động bằng bó bột ở ngón cái và cổ tay (khoảng 2 đến 3 tháng) cho đến lúc xương lành. Cho bệnh nhân chụp XQuang để đánh giá diễn tiến lành. Khoảng 90% được điều trị thích hợp theo cách này sẽ lành. Thường thì cũng có giá trị trong việc cái thiện biên độ cử động và chức năng của khớp sau khi cắt bột. Thậm chỉ đã có điều trị rồi thì cũng phải mất khoảng 1 năm để cái thiện chức năng & biê độ cử động của khớp đến tối đa. Đôi khi, bệnh nhân không lấy lại được chức năng & biên độ cử động khớp bình thường sau khi điều trị.

Trong 1 số trường hợp nhất định, các bệnh nhân bị gãy xương thuyền không di lệch, bệnh nhân vẫn cần phẫu thuật để làm giảm thời gian bó bột. Nhưng mà hiện nay cách tiếp cận này vẫn còn đang gây tranh cãi. Đối với bệnh nhân bị gãy xương di lệch tùy thuộc vào tình trạng & mức độ hoạt động của bệnh nhân mà bác sĩ có thể tư vấn là nên mổ hay không. Mục tiêu của phẫu thuật là nhằm làm cố định chỗ gãy & thúc đẩy sự lành xương. Phẫu thuật thường được tiền hành theo chế độ ngoại trú hoặc là gây tê vùng (phong bế đám rối thần kinh cánh tay). Phẫu thuật là nhằm kết hợp xương. Trong đa số các trường hợp, bác sĩ dùng 1 cay đinh vít để cố định phía trong xương và mổ theo kiểu này gọi là nắn chỉnh hở. Đôi khi những mảnh ghép xương được sử dụng để cải thiện tình trạng kết hợp xương & khả năng lành xương ở chỗ xương gãy. Mảnh ghép xương có thể lấy ở xương quay hay mào chậu. Phẫu thuật thực ra không làm lành xương gãy mà chỉ cố định xương gãy lại trong khi xương thì tự lành lại. Quá trình liền xương thì mất hàng tháng nên bệnh nhân cần kiên nhẫn. Cho bệnh nhân nghỉ ngơi và nâng tay ngang bằng  tim là quan trọng trong vài ngày đầu sau phẫu thuật.

Bác sĩ thì nên khuyến khích bệnh nhân vận động tay nhẹ nhàng để tránh tình trạng cứng ngón. Cổ tay và ngón tay của bệnh nhân sẽ được bảo vệ trong 1 cái nẹp. Nẹp sẽ được cắt cùng lúc tại bệnh viện. Lúc đó nẹp này sẽ được thay thế bằng 1 loại nẹp khác tháo ráp được nhằm bảo vệ chỗ xương gãy. Bệnh nhân được khuyên tránh những động tác cầm vật nặng 3 tháng sau mổ. Tính chất đau, sưng cứng khớp cổ tay sẽ được cải thiện dần. Đa số khớp cổ tay của bệnh nhân sẽ trở về hoạt động bình thường từ 4 đến 6 tháng sau mổ. Thời gian hồi phục tùy thuộc vào bệnh nhân, mức độ nặng và các biến chứng, sức chịu đựng đau của bệnh nhân.

Read Full Post »

1. Thông tin chung:

– Ngày trực: 19/06/2012

– BS trực: BS. Tùng, BS. Tuấn, BS. Trung, BS. Hằng, BS. Hiếu

2. Tường trình tiểu phẫu:

Họ tên bênh nhân: Nguyễn T. N          36t                 Nam

Nhập viện lúc: 19h15   19/06/2012

Lý do nhập viện: rách tai

Cơ chế vết thương: BN té từ lầu 3 của công trường xuống, tai va quẹt vào cây sắt

Mô tả vết thương: vết rách ở vành tai dài 6cm


 

Các bước tiến hành thủ thuật:

-Chuẩn bị bệnh nhân

– Chuẩn bị dụng cụ: bộ dụng cụ tiểu phẫu, gòn gạc, chỉ 4/0b không tiêu, khăn, oxy già, Lidocain 2%.

– Bộc lộ vết thương

– Làm sạch vết thương.

– Trải khăn lỗ.

– Gây tê tại chỗ bằng lidocain 2%.


– Khâu 16 mũi: 8 mũi ở trước, 8 mũi ở sau


– Vệ sinh và băng lại vết thương (băng hình alpha).


– Dọn dẹp dụng cụ, làm vệ sinh bàn tiểu phẫu.

3. Ca lâm sàng:

Họ và tên BN: Huỳnh Văn L.            Giới:Nam                 Tuổi: 43

Khoa: CC

Nhập viện lúc:  19/06/2012

Lý do nhập viện: Đau bụng

Bệnh sử:

4 ngày trước nhập viện, BN đau âm ỉ vùng quanh rốn, không tư thế giảm đau, không bí trung đai tiện, không nôn ói. BN khám phòng mạch tư, được chích thuốc (không rõ loại) và cảm thấy bớt đau

2 ngày trước nhập viện,BN đau vùng bụng dưới và quanh rốn,đau tăng so với trước đó, đau quặn từng cơn trên nền âm ỉ, mỗi cơn kéo dài khoảng 5 phút cách nhau 5 phút và  không tư thế giảm đau, không nôn ói.Cách nhập viện 1 ngày, bệnh nhân bí trung đại tiện.

Tiền căn:

– Cách 3 tuần: ERCP lấy sỏi ống mật chủ tại BV 115.

Nội khoa: chưa ghi nhận

Gia đình: chưa ghi nhận bất thường.

Triệu chứng thực thể:

Tổng trạng:

Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt.

Sinh hiệu: Mạch: 78 l/ph, nhiệt độ: 37oC, HA: 120/70 mmHg, nhịp thở: 20 l/ph.

Thể trạng gầy

Da niêm nhạt

Không vàng da, không vàng củng mac mắt,không vàng niêm mạc dưới lưỡi.

Không phù, dấu véo da(-)

Hạch ngoại biên không sờ chạm.

Khám ngực:

Lồng ngực cân đối, di động đều theo nhịp thở, không sẹo mổ cũ, không sao mạch, không co kéo các cơ hô hấp phụ.

Nhịp tim đều,78 l/phút, T1T2 rõ, không âm thổi bệnh lý.

Gõ trong, rì rào phế nang êm dịu, không nghe rale bệnh lý.

Khám bụng:

Bụng mềm, cân đối, di động theo nhịp thở, không sẹo mổ cũ, không tuần hoàn bàng hệ. Trong cơn, thấy quai ruột nổi vùng dưới rốn

Ấn đau vùng quanh rốn và hạ vị, không sờ thấy khối u, đề kháng thành bụng (-), phản ứng thành bụng (-). Gan lách không sờ chạm

Nhu động ruột trong cơn liên tục, âm sắc cao; ngoài cơn không nghe nhu động

Thăm trực tràng:  Lòng trực tràng trơn láng, sờ chạm một quai ruột căng, ấn đau, rút găng không có máu.

Các hệ cơ quan khác: chưa phát hiện bất thường.

Tóm tắt triệu chứng cận lâm sàng:

Công thức máu:

+Lym;                  18

+Lym%:                 1

+Eos:                   1,17

+Eos%:                17,5

Siêu âm: Giãn đường mật trong và ngoài gan do sỏi OMC. Quai ruột giãn lớn, tích tụ dịch tự do trong ổ bụng lượng ít.


 

X-quang: mực nước hơi quanh rốn, các quai ruột giãn lớn.


CT-scan: Nhiều sỏi túi mật, sỏi lớn nhất có kích thước 10x10x12mm, giãn nhẹ đường mật trong và ngoài gan.


Tóm tắt bệnh án:

BN nam, 43t, nhập viện vì đau bung có tiền căn mổ lấy sỏi OMC (ERCP).

TCCN: Đau vùng quanh rốn và hạ vị, bí trung đại tiện 1 ngày

TCTT: Quai ruột nổi vùng dưới rốn, ấn đau vùng dưới rốn và hạ vị, nhu động ruột tăng âm sắc cao (trong cơn). Thăm trực tràng sờ chạm quai ruột căng, ấn đau, không có máu dính găng

Chần đoán sơ bộ: Theo dõi tắc ruột nghi do lao/sỏi ống mật chủ

Kinh nghiệm rút ra từ ca trực:

-Nhìn thấy quai ruột nổi rõ trong cơn

-Quan sát kĩ thuật khâu vành tai

Read Full Post »

I. HÀNH CHÍNH

Họ tên:Phạm T. G.                           70t                          Nữ

Địa chỉ:  Củ Chi

Khoa: Ngoại tổng quát

Thủ thuật thực hiện: cắt chỉ thép

II. MÔ TẢ THỦ THUẬT:

Ngày thực hiện: 18/06/2012

Mô tả các bước tiến hành

-Chuẩn bị bệnh nhân

-Chuẩn bị dụng cụ (2 kiềm kelly, gòn gac, povidine, 1 kiềm cắt thép, băng keo)

-Bộc lộ vết thương

– Đánh giá : độ lành của vết thương, tính chất dịch

-Sát trùng vết thương bằng povidine

-Tiến hành cắt chỉ:

+ Dùng 2 kelly kẹp 2 chân của chỉ thép. Dùng kéo cắt đoan chỉ thép giữa hai kèm (không cắt vào đoạn ống nhựa bảo vệ)

+ Dùng 2 kelly xoay nhẹ đoạn cắt để làm đứt chỉ thép, dung Kelly  nắn lại đoạn cong của chỉ thép tạo thành hình liềm để dễ rút chỉ ra và không gây đau và tổn thương cho BN

-Dùng kelly rút chỉ thép, chú ý quan sát sắc mặt BN

-Vệ sinh sát khuẩn vết thương

-Băng lại vết thương.

– Dọn dẹp dụng cụ

Kinh nghiệm rút ra:

-Đánh giá độ lành vết thương khi khâu chỉ thép

-Quan sát các bước cắt chỉ thép

-Khuyên bn hít thở đều và nắn chỉ lại trước khi rút ra để tránh gây đau và tồn thương  không cần thiết cho BN

Read Full Post »

PHẦN HÀNH CHÍNH

Họ tên BN: Đỗ Văn K.                   Tuổi : 41         Giới tính: Nam

Địa chỉ:  Cà Mau                            Nghề nghiệp:  Tài xế

Khoa:  Ngoại Tiết niệu                   Phòng: 408

Ngày NV: 8/6/2012

Ngày khám: 12/6/2012

LÝ DO NHẬP VIỆN:  đau hông lưng

BỆNH SỬ:

Cách NV 2 tháng, BN thường cảm thấy đau nhói hông lưng T khi ngồi nhiều, không lan. Cách NV 4 ngày, BN xuất hiện dấu hiệu tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu nhiều lần, nước tiểu vàng, thỉnh thoảng có lẫn ít cục máu đông, BN đau hông lưng T thường xuyên hơn, đau lan đến phía trước bụng và xuống hố chậu T, đau quặn từng cơn trên nền âm ỉ, không tư thế giảm đau, BN không sốt, không nôn ói.  BN nhập viện BV Cà Mau , sau đó chuyển viện BV 115

TIỀN CĂN

1) Bản thân: chưa ghi nhận bệnh lý

– không hút thuốc lá,  ít uống rượu

– BN không dị ứng thức ăn hay loại thuốc nào

2) Gia đình: chưa ghi nhận bệnh lý liên quan

KHÁM THỰC THỂ

1) Tổng trạng:

– BN tỉnh, tiếp xúc tốt

– Sinh hiệu:  Mạch 96l/phút       HA: 110/70 mmHg      NT 20l/phút

Thân nhiệt: 37 độ C

– Thể trạng trung bình

– Da niêm hồng, không vàng, không dấu xuất huyết dưới da, không phù

– Hạch ngoại biên: không sờ chạm

– Lông – tóc – móng:  chưa ghi nhận bất thường

2) Khám ngực

– Lồng ngực cân đối, di động theo nhịp thở, không khó thở, thở đều ,không co kéo cơ hô hấp phụ, không sẹo mổ cũ, không có tuần hoàn bàng hệ ở ngực, không có dấu hiệu tím tái, không dấu sao mạch

– Khí quản không di lệch, lồng ngực giãn nở tốt, rung thanh đều 2 bên,  không sờ thấy ổ đập bất thường, không có rung miêu, phản hồi gan – TM cổ (-), mạch mềm, đập đều 2 bên

– Gõ trong

– Tiếng thở thanh khí quản bình thường, rì rào phế nang êm dịu 2 phế trường.

– Tim loạn nhịp hoàn toàn, 100l/phút, T1 T2 rõ, không tiếng tim bất thường hay âm thổi bệnh lý

3) Khám bụng:

– Bụng cân đối, không to bè hay chướng căng, di động theo nhịp thở, không THBH, không có dấu tím bầm, không  sẹo mổ cũ

– Nhu động ruột: 6l/phút, âm sắc vừa phải

– Gõ vang, không gõ đục vùng thấp, không mất vùng đục trước gan

– Gan,  lách , túi mật không sờ chạm, không ấn thấy điểm đau

6) Khám hệ tiết niệu:

– Không khối gò ở hố thắt lưng, cầu bàng quang (-)

– Ấn đau hông lưng T, bập bềnh thận (-), chạm thận (-), điểm đau niệu quản (-)

– Rung thận (-)

– Không âm thổi ở động mạch thận

7) Các hệ cơ quan khác: chưa ghi nhận bất thường

CẬN LÂM SÀNG:

–          Công thực máu:

Eos   1.24

Eos %   15.8

–          Đông máu

INR  1.12

–          Tổng phân tích nước tiểu

Blood  50

Leukocytes  100

–          Sinh hóa

AST  45

ALT  65

–          Siêu âm:

–          KUB:

–          UIV:

TÓM TẮT BỆNH ÁN:

BN nam  41 tuổi, nhập viện vì đau hông lưng

– TCCN: cách NV 4h, BN đau hông lưng T thường xuyên hơn, đau lan đến phía trước bụng và xuống hố chậu T, đau quặn từng cơn trên nền âm ỉ, không tư thế giảm đau, có  dấu hiệu tiểu khó, tiểu lắt nhắt, tiểu nhiều lần, nước tiểu vàng, thỉnh thoảng có lẫn ít cục máu đông

– TCTT: thể trạng trung bình, ấn đau hông lưng Trái

– Tiền căn: chưa ghi nhận tiền căn bệnh lý

 ĐẶT VẤN ĐỀ:

BN nam 41t, nghề nghiệp là tài xế, nhập viện vì đau hông lưng

Đau đã 2 tháng nay, có triệu chứng rối loại hệ niệu như tiểu khó và thay đổi tính chất nước tiểu, ấn đau vùng hông lứng T.

Read Full Post »

Bệnh cơ tim phì đại (BCTPĐ)

I. Định nghĩa

– Bệnh cơ tim phì đại là sự dày lên một cách bất thường của thất trái

– Phì đại thất trái là biểu hiện chủ yếu của BCTPĐ, tuy nhiên, cũng có một số trường hợp toàn bộ cơ tim, thất phải, hoặc mỏm tim bị phì đại.

– Phần lớn các trường hợp mắc BCTPĐ đều bị phì đại vách liên thất, dẫn đến tắc nghẽn đường ra thất trái.

– Đây là một bệnh di truyền thường gặp với tỷ lệ mắc bệnh là 1:500.

– BCTPĐ là nguyên nhân chính dẫn đến sự đột tử ở những vận động viên và người trẻ tuổi (<30 tuổi).

II. Nguyên nhân

– BCTPĐ là một bệnh di truyền do đột biến gen trội. Đến nay, các nhà khoa học đã phát hiện ra 13 gen với hơn 900 đột biến ở các gen này có thể dẫn đến BCTPĐ.

– Khoảng 60% bệnh nhân được xác định nguyên nhân mắc bệnh là do đột biến gen mã hóa các protein của cấu trúc sarcomere trong cơ tim (chủ yếu là myosin và troponin).

– Khoảng 40% các trường hợp mắc bệnh còn lại có nguyên nhân do đột biến ở các gen khác hoặc không rõ nguyên nhân.

III. Triệu chứng

– Phần lớn các bệnh nhân mắc BCTPĐ đều không có triệu chứng và họ có thể sống một cuộc sống bình thường như bao người khác.

– Rất đáng tiếc, ở các bệnh nhân khác, đặc biệt là bệnh nhân trẻ tuổi và vận động viên thể thao, triệu chứng đầu tiên và cũng là cuối cùng của BCTPĐ là đột tử.

– Ngoài ra, một số ít bệnh nhân có thể có một trong các triệu chứng sau đây:

+ Đau ngực

+ Chóng mặt và hoa mắt, đặc biệt là trong lúc vận động mạnh hoặc khi thay đổi tư thế đột ngột

+ Khó thở

+ Thường xuyên mệt mỏi

+ Ngất xỉu

IV. Chẩn đoán

– Hầu hết các trường hợp mắc bệnh cơ tim phì đại đều được phát hiện một cách tình cờ khi bệnh nhân được kiểm tra sức khỏe định kỳ hoặc đang đến khám bác sĩ vì một bệnh lý khác.

– Dấu hiệu dễ nhận biết nhân là những âm thanh bất thường hoặc âm thổi trong tim.

– Khi đó, bệnh nhân thường được chỉ định làm các xét nghiệm cận lâm sang sau đây:

+ Siêu âm tim (phương pháp thông dụng và dễ thực hiện nhất)

+ Điện tâm đồ

+ X-Quang ngực

+ Điện tâm đồ Holter 24h

+ Thông tim (để đo áp lực máu ở các buồng tim)

– Hình ảnh siêu âm của một bệnh nhân bị phì đại vách liên thất.

– Ở các nước tiên tiến, một khi BCTPĐ đã được chẩn đoán chính xác, bệnh nhân và người thân trong gia đình (cha mẹ, con cái, anh chị em) sẽ được chỉ định xét nghiệm gen để tìm đột biến gây bệnh.

V. Điều trị

– Thông thường, bệnh nhân được điều trị để giảm nhẹ các triệu chứng của bệnh hơn là triệu trị BCTPĐ. Phương pháp chủ yếu là dùng thuốc và thay đổi lối sống.

– Điều trị bằng thuốc: các thuốc thường được chỉ định là:

+ Thuốc chẹn kênh beta: làm giảm nhịp tim và bảo tồn cơ tim

+ Thuốc chẹn kênh canxi: kéo dài thời gian thời kỳ tâm trương và tăng sức co bóp

+ Thuốc chống rối loạn nhịp tim

– Ngoài ra, bệnh nhân mắc BCTPĐ còn được đề nghị thay đổi lối sống, tránh gắng sức và tránh tham gia các môn thể thao có tính cạnh tranh cao như bóng đá, bóng rổ, điền kinh, vv.

– Nếu bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng thuốc, bác sĩ có thể cân nhắc đến các phương pháp điều trị xâm lấn khác như phẫu thuật hoặc cắt đốt cơ tim bằng cồn nguyên chất. Các phương pháp này thường được áp dụng ở các bệnh nhân bị phì đại vách liên thất và tắt nghẽn đường ra thất trái.

– Phẫu thuật cắt lọc cơ tim:

+ Phần phì đại của vách liên thất sẽ được cắt bỏ. Nhờ vậy, đường ra thất trái được giải phóng và không còn tắc nghẽn nữa. Độ chênh áp giữa thất trái và động mạch chủ có thể giảm xuống dưới 10 mmHg.

+ Phẫu thuật viên cũng có thể nhân cơ hội này sửa chữa các van tim bệnh lý của bệnh nhân.

+ Đây là phương pháp mang tính xâm lấn cao nhưng rất an toàn và có tác dụng lâu dài. Một số nghiên cứu cho thấy phẫu thuật này có tỉ lệ tử vong nhỏ hơn 2-3%. Trong khi đó, sau khi phẫu thuật, 90% bệnh nhân đều có triệu chứng được cải thiện rõ rệt ngay tức khắc và bệnh nhân có thể sống cuộc sống bình thường trong hơn 30 năm sau đó.

+ Trong một số trường hợp, hệ thống dẫn truyền tim có thể bị ảnh hưởng và bệnh nhân sẽ phải gắn máy tạo nhịp vĩnh viễn. Tuy nhiên, tỉ lệ này là rất thấp.

– Đốt cơ tim bằng cồn nguyên chất

+ Phương pháp này vừa được giới thiệu gần đây. Khi đó, phẫu thuật viên đưa ống thông theo đường động mạch đến động mạch vành cung cấp máu nuôi phần cơ tim được phì đại. Sau khi xác định được nhánh động mạch thích hợp, phẫu thuật viên sẽ bơm từ 3-4 ml cồn nguyên chất 100o. Nhánh động mạch đó sẽ bị tắc và ngưng cung cấp máu cho phần cơ tim bị phì đại. Do đó, phần phì đại sẽ thu nhỏ lại sau 8-12 tuần.

+ Đây là một phương pháp xâm lấn tối thiểu nên phù hợp cho các bệnh  nhân có thể trạng không thể chịu được một cuộc mổ lớn (như những bệnh nhân lớn tuổi).

+ Tuy có tỉ lệ tử vong thấp (khoảng 2-3%), phương pháp này chỉ có tác dụng ở 70-80% bệnh nhân, và thời gian hiệu nghiệm dưới 5 năm.

+ Nguy cơ lớn nhất của phương pháp này loạn nhịp tim do chúng ta sẽ tạo ra một cơ nhồi máu cơ tim dưới sự kiểm soát của phẫu thuật viên. Do đó, trước khi bắt đầu, bệnh nhân sẽ được gắn máy tạo nhịp tim tạm thời để ngăn ngừa những cơn loạn nhịp. Ở khoảng 15-40% trường hợp, phần cơ tim bình thường có thể bị ảnh hưởng và bệnh nhân sẽ phải mang máy tạo nhịp vĩnh viễn.

– Cuối cùng, nếu bệnh diễn tiến đến giai đoạn suy tim nặng, bệnh nhân có thể được cân nhắc để ghép tim.

VI. Phòng ngừa

– Vì đây là một bệnh di truyền do đột biến gen nên không có phương pháp phòng ngừa hữu hiệu.

– Một khi bệnh nhân được phát hiện bệnh, người nhà của bệnh nhân nên được kiểm tra để phát hiện và phòng tránh diễn tiến của bệnh.

– Ở một số bệnh nhân có nguy cơ đột tử cao do loạn nhịp tim, bệnh nhân có thể được gắn máy khử rung tim (Implantable Cardioverter Defibrillator – ICD) để dập tắt những cơn loạn nhịp khi cần thiết.

+ ICD là một thiết bị nhỏ được gắn dưới da ở ngực bệnh nhân và có điện cực được dẫn đến tâm nhĩ hoặc/và tâm thất phải.

+ ICD liên tục theo dõi nhịp tim của bệnh nhân. Khi phát hiện những nhịp tim bất thường, ICD có thể phát ra những cú sốc điện để dập tắt cơn loạn nhịp và làm tim đập lại bình thường.

+ Nguy cơ lớn nhất khi gắn ICD là bệnh nhân có thể bị sốc khi họ không bị loạn nhịp, nhất là ở những bệnh nhân trẻ và năng động. Điều này gây ra đau đớn không đáng có cho bệnh nhân là làm giảm tuổi thọ của ICD. Vì thế, bệnh nhân thường được bác sĩ hỏi kĩ về thói quen vận động và lối sống để có thể lập trình ICD một cách thích hợp.

 

Tài liệu tham khảo

http://www.texasheartinstitute.org/HIC/Topics/Cond/hypertro.cfm

http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/ency/article/000192.htm

http://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMcp030779

http://jama.jamanetwork.com/article.aspx?volume=287&issue=10&page=1308

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/18227814

http://www.annals.org/content/152/8/513.abstract

Read Full Post »

Older Posts »