Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘CHUYÊN ĐÈ TUẦN 6’

1. Thế nào là một ung thư tuyến giáp?

Tuyến giáp là một tuyến nội tiết nằm ở cổ, giữ nhiều chức năng quan trọng trong cơ thể như: kiểm soát nồng độ canxi trong máu, điều hoà nhịp tim, nhiệt độ và chuyển hoá của cơ thể…

Khi có sự tăng sinh quá mức các tế bào tuyến giáp sẽ tạo thành khối mô bất thường, thường gọi là bướu giáp. 90% bướu giáp là lành tính, thường không gây nguy hại gì đến bệnh nhân. Ở 10% còn lại là thể ác tính, các tế bào từ bướu có thể xâm nhập các cơ quan khác, gọi là ung thư tuyến giáp, lúc đầu chỉ ảnh hưởng các cơ quan lân cận, sau đó tế bào ác tính vào máu và bạch huyết đến khắp nơi trong cơ thể, gọi là di căn. Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại ung thư.

Có 5 loại ung thư tuyến giáp thường gặp:

  • ung thư biểu mô thể nhú: 75-85%
  • ung thư biểu mô thể nang: 10-20%
  • ung thư biểu mô thể tuỷ: 5-8%
  • ung thư biểu mô không biệt hoá: 1-2%
  • ung thư dạng biểu bì: hiếm gặp

2. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

  • Bức xạ: ghi nhận được ở các trường hợp điểu trị amydan, mụn trứng cá bằng tia X liều cao, chụp Xquang vùng ngực, tiếp xúc yếu tố Iod-131…
  • tiền căn gia đình: ung thư đa nội tiết (MEN-multiple endocrine neoplasia )
  • phụ nữ: nguy cơ cao hơn nam giới 2-3 lần
  • tuổi: hay gặp ở tuổi 40-65
  • thiếu iod trong chế độ dinh dưỡng

3. Triệu chứng thường gặp

  • bướu to trước cổ

  • khan tiếng, mất giọng
  • sưng hạch vùng cổ
  • cảm giác vướng tức, khó thở
  • đau cổ, đau họng

4. Khám lâm sàng và cận lâm sàng

  • Khám lâm sàng thấy: bướu giáp, hạch sưng to
  • Xét nghiệm máu đánh giá sự tăng hoặc giảm hormon kích thích tuyến giáp (TSH)
  • Chụp Xquang, siêu âm, CT scan, MRI tuyến giáp: xác định được tính chất của bướu ( đặc hay chứa dịch) , kích thước, thể tích,…
  • Quét phóng xạ: thường dùng nguyên tố iod-131 để chụp tuyến giáp
  • Sinh thiết tế bào khối u
  • Tìm chất đánh dấu khối u tuyến giáp: thường là HTG ( Human thyroglobulin ), CEA ( carcino embrionic antigen)…

5. Điều trị

Có nhiều lựa chọn phương pháp điều trị tuỳ vào mức độ tiến triển của bệnh:

  • Xạ trị
  • Hoá trị
  • Điều trị bằng nội tiết tố
  • Điều trị với iod-131
  • Can thiệp ngoại khoa: cắt toàn bộ tuyến giáp ( thể nang, thể tuỷ) hoặc cắt chọn lọc ( thể nhú)

6. Tác dụng phụ của các phương pháp điều trị

  • Xạ trị: BN rất mệt mỏi sau khi xạ trị, có thể khàn giọng, không nuốt được…
  • Hoá trị: thường gặp triệu chứng nôn ói, chán ăn, rụng tóc…
  • Điều trị bằng nội tiết tố: ít tác dụng phụ, có thể gây suy giáp hay cường giáp nếu lượng hormon không thích hợp.
  • Điều trị với iod-131: BN nôn ói sau khi điều trị, có thể sung đau nơi khối u hoặc những nơi tế bào di căn đến, ghi nhận lượng nhỏ bị bệnh bạch cầu khi điều trị liều cao iod-131.
  • Phẫu thuật: theo dõi sau mổ, chú ý các biến chứng chảy máu, tổn thương thần kinh quặt ngược thanh quản gây khàn hoặc mất giọng, ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp và tuyến cận giáp, cơn bão giáp…

_____________________________________________-

Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Thyroid_cancer

http://www.medicinenet.com/thyroid_cancer/article.htm

Read Full Post »

GIỚI THIỆU

Hội chứng Maffucci là một bệnh lý rối loạn ảnh hưởng đến hệ xương và da, đặc trưng bởi sự xuất hiện nhiều u sụn trong, mà không phải do sự tăng trưởng ác tính của sụn xương (lành tính). U sụn trong thường thấy ở các xương chi, đặc biệt là ở bàn tay và bàn chân,tuy nhiên, cũng có thể tìm thấy ở xương sọ, xương sườn và xương sống. Những khối u này có thể làm cho xương biến dạng nghiêm trọng, rút ngắn chiều dài các chi và dễ dẫn đến gãy xương. Nó phát triển gần đầu xa của xương nên làm ngừng sự tăng trưởng và phát triển của xương. Hậu quả của hội chứng Maffucci chính là bệnh nhân thường có vóc người thấp bé và cơ bắp kém phát triển.

Hội chứng Maffucci phân biệt với các bệnh lý rối loạn tương tự  khác cũng có u nội sụn ở sự hiện diện của các vùng da màu đỏ hoặc tím chứa đám rối mạch máu bất thường (u mạch máu). Bệnh nhân đôi khi cũng có u mạch bạch huyết. Những mảng da màu sắc dị thường này có thể xuất hiện ở bất cứ vùng nào trên cơ thể.

 Sự tăng sinh bất thường liên quan đến hội chứng Maffucci có thể trở thành u ác tính (ung thư). Đặc biệt, người bệnh có thể mắc ung thư xương, đặc biệt là xương sọ. Họ cũng có nguy cơ cao mắc các bệnh ung thư khác,chẳng hạn như ung thư buồng trứng hoặc ung thư gan.
Đây là một hội chứng rất hiếm. Kể từ khi nó được mô tả lần đầu tiên vào năm 1881, không đến 200 trường hợp đã được báo cáo trên toàn thế giới.

TRIỆU CHỨNG:
Hội chứng Maffucci có 3 triệu chứng chính:
• Dị dạng tĩnh mạch (u mạch máu) – có thể là dị dạng ở tĩnh mạch nông hay sâu. Nếu nông ở da thường nổi nhộ lên những nốt màu xanh nhạt


• U sụn lành tính (u sụn trong) – có thể xuất hiện ở bất cứ nơi nào trên cơ thể, nhưng thường xuyên được tìm thấy trên bàn tay hoặc bàn chân, xương dài của cánh tay hoặc cẳng chân. U sụn trong có thể làm xương yếu đi và dễ gãy (gãy xương bệnh lý). Khoảng 30% trường hợp, u sụn trong có thể phát triển thành ung thư

u sụn trong ở xương chậu

• Dị tật xương – bao gồm sự rút ngắn chiều dài của các xương dài, kết quả là hai cánh tay và hai chân không đều nhau. Xương cũng có thể dễ gãy bởi vì nó rất yếu, dù sau khi chữa trị, hai đầu xương gãy cũng không khớp nhau được ( liền xương sai lệch).

các triệu chứng của hội chứng Maffucci

CHẨN ĐOÁN
Các triệu chứng của hội chứng Maffucci dường như xuất hiện từ nhỏ, cha mẹ thường nhận thấy các u mạch máu trên da của một đứa trẻ mắc bệnh khi trẻ 4 hoặc 5 tuổi. Da và xương tăng trưởng chậm theo thời gian. Chẩn đoán hội chứng Maffucci được dựa trên các triệu chứng lâm sàng, vì không có chẩn đoán đặc hiệu cho chứng rối loạn này.

ĐIỀU TRỊ
Không có phương pháp điều trị nội khoa cho hội chứng Maffucci. Tuy nhiên, bệnh nhân cần phải được kiểm tra thường xuyên để tầm soát những thay đổi ở da và tổn thương xương. Đặc biệt, các chuyên gia y tế nên theo dõi những triệu chứng bất thường trên bệnh nhân  báo hiệu sự phát triển của một khối u ác tính. Bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình sẽ theo dõi những rối loạn của hệ xương và gãy xương bệnh lý, và một bác sĩ da liễu sẽ theo dõi các u mạch máu ở da.

 

TIÊN LƯỢNG

Hội chứng Maffucci được cho là biểu hiện từ lúc mới sinh trên cơ thể bệnh nhân. Các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn này có thể được phát hiện lúc mới sinh, mặc dù nó thường không được rõ ràng cho đến khi trẻ khoảng năm tuổi. Những người mắc chứng rối loạn này thường có tuổi thọ bình thường và trí thông minh  không bị ảnh hưởng. Mức độ suy giảm thể chất của họ phụ thuộc vào dị tật xương mỗi cá nhân, nhưng trong nhiều trường hợp, không có ảnh hưởng lớn trong hoạt động sinh hoạt của họ.

Nguồn:

http://emedicine.medscape.com/article/1111804-overview

http://rarediseases.about.com/od/rarediseases1/a/maffucci.htm

http://ghr.nlm.nih.gov/condition/maffucci-syndrome

Hình:

http://www.nature.com/ng/journal/v43/n12/carousel/ng.994-F1.jpg

http://radiographics.rsnajnls.org/content/vol21/issue5/images/large/g01se30c3a.jpeg

http://tumorsurgery.org/Portals/0/images/Enchondroma/Enchondroma46.jpg

http://phleb.rsmjournals.com/content/25/5/224/F1.large.jpg

 

Read Full Post »

GIỚI THIỆU

I. ĐỊNH NGHĨA:

Osteogenesis imperfecta (OI) là một rối loạn di truyền đặc trưng bởi xương dễ gãy, thường ít hoặc không có nguyên nhân rõ ràng, là kết quả của đột biến ảnh hưởng đến collagen trong mô liên kết, làm cho xương giòn và dễ gãy sau va chạm nhẹ hay ngay cả khi không có sang chấn, còn được gọi là bệnh xương thủy tinh

II.NGUYÊN NHÂN:

Nguyên nhân của OI là một khiếm khuyết di truyền có ảnh hưởng đến sự sản xuất collagen của cơ thể. Collagen là protein chính của mô liên kết của cơ thể. Người bệnh có collagen hoặc ít hơn bình thường, hoặc chất lượng kém hơn bình thường, điều này dẫn đến xương yếu và dễ gãy.

Trong bệnh OI do tổn thương các gen chỉ huy sản xuất collagen týp 1 (COL1A1 và COL1A2) nên số lượng hoặc chất lượng của các sợi collagen bị giảm sút làm cho xương giảm khả năng chịu lực, bị biến dạng và dễ gãy. Mặt khác, collagen còn là thành phần chính của nhiều mô liên kết nên bệnh cảnh lâm sàng không chỉ ở xương mà còn ở nhiều cơ quan khác như da, dây chằng, củng mạc mắt, răng…

Tư vấn di truyền có thể giúp hiểu được loại OI của con mình. Nếu muốn sinh thêm con,bạn nên liên lạc với một nhà di truyền học để giúp xác định xác suất của sự tái phát OI trong gia đình. Bệnh có thể di truyền từ người lớn mắc bệnh với xác suất 50%, hoặc có thể do đột biến tự phát.

III.PHÂN LOẠI:

Đây là một bệnh hiếm gặp, tỷ lệ bệnh vào khoảng 1/20.000, tần suất bệnh không phụ thuộc vào chủng tộc và giới tính. Nước ta cho đến nay chưa có số liệu cụ thể về số người mắc căn bệnh này

TYPE I:

-Loại phổ biến nhất và nhẹ nhất.

-Xương dễ gãy. Hầu hết các gãy xương xảy ra trước tuổi dậy thì.

-Tầm vóc trung bình

-Khớp lỏng lẻo và yếu cơ.

-Củng mạc mắt màu xanh hay tím.

-Có xu hướng bị cong cột sống.

-Có thể có răng dễ gãy.

-Nghe kém thường bắt đầu trong độ tuổi 20 hoặc 30.

-Cấu trúc collagen bình thường nhưng số lượng ít hơn bình thường

TYPE II

-Là dạng nghiêm trọng nhất

-Gây tử vong ngay sau sinh, thường do vấn đề hô hấp.

-Gãy xương nhiều và biến dạng xương nặng.

-Tầm vóc nhỏ với phổi kém phát triển.

-Collagen được hình thành không đúng cách

TYPE III

-Xương dễ gãy. Gãy xương thường xảy ra khi sinh, và x-quang có thể cho thấy gãy xương đã chữa lành xảy ra trước khi sinh.

-Tầm vóc nhỏ.

-Khớp lỏng lẻo và kém phát triển cơ bắp ở tay và chân.

-Củng mạc mắt thường quá trắng hoặc có màu xám, xanh

-Cột sống cong.

-Có thể có vấn đề hô hấp.

-Răng dễ gãy, nghe kém

-Collagen được hình thành không đúng cách.

TYPE IV

-Trung gian giữa type I và type III.

-Xương dễ gãy thường xảy ra trước tuổi dậy thì.

-Thấp hơn tầm vóc trung bình.

-Củng mạc có màu trắng hoặc gần trắng (tức là bình thường).

-Biến dạng xương từ nhẹ đến trung bình.

Xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng sẽ là type 1, type 4, type 3, type 2. Một số nghiên cứu mới đã phân loại thêm týp 5, 6, 7, 8.

Xét nghiệm mật độ xương thường thấp hơn bình thường. Siêu âm thai có thể phát hiện các bất thường về chiều dài chi của thai nhi từ tuần thứ 15 và các gãy xương, tuy nhiên đối với những thể nhẹ thì rất khó phát hiện.

IV. TRIỆU CHỨNG:

Triệu chứng thay đổi đáng kể theo loại, do đó rất khó khăn để dự đoán

Các triệu chứng đặc trưng cũng khác nhau rất nhiều giữa người này với người khác ngay cả trong số những người có cùng một loại rối loạn, và ngay cả trong cùng một gia đình. Ngoài ra, không phải tất cả các triệu chứng đều có trong mọi trường hợp.

Các triệu chứng phổ biến của OI gồm:

-Xương dễ gãy

-Tầm vóc thấp

-Nghe kém

-Răng giòn

-Củng mạc màu xanh

-Biến dạng xương chân tay, ngực, và hộp sọ

-Chứng vẹo cột sống

-Hô hấp khó khăn

-Cơ bắp yếu

-Đổ mồ hôi nhiều

-Táo bón

-Dễ bị bầm tím

-Lỏng khớp và dây chằng

-Giọng nói the thé.

Rất ít người với OI có tất cả các triệu chứng này, và mức độ nghiêm trọng của mỗi triệu chứng có thể khác nhau rất nhiều giữa các cá nhân.

V. KIỂM TRA VÀ CHẨN ĐOÁN:

Có thể chẩn đoán chỉ dựa vào đặc điểm lâm sàng. Di truyền học lâm sàng cũng có thể được thực hiện. Xét nghiệm sinh hóa (collagen) hoặc phân tử (DNA) có thể giúp xác định chẩn đoán trong một số trường hợp.

Kiểm tra sử dụng để chẩn đoán OI thường cần vài tuần để biết kết quả. Cả sinh thiết kiểm tra collagen và kiểm tra DNA để phát hiện gần 90% các đột biến collagen type 1

Kiểm tra mật độ xương hoặc quét mật độ xương kết hợp với tiền sử cá nhân và gia đình, kết quả kiểm tra vật lý, và kết quả chụp X-quang và xét nghiệm sinh hóa, có thể cung cấp thông tin quan trọng để hỗ trợ chẩn đoán. Ví dụ, nếu một người (thường là một đứa trẻ không biết là có OI) bị gãy xương, có thể là một câu hỏi về việc liệu chấn thương đủ để gây ra gãy xương. Trong khi một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các bệnh nhân OI thường giảm đáng kể mật độ xương, các nghiên cứu khác lại chỉ ra rằng mật độ xương có thể là bình thường ở những bệnh nhân OI đang bị ảnh hưởng nhẹ

VI. ĐIỀU TRỊ:

Không có cách chữa osteogenesis imperfecta (OI), gen trị liệu là hướng điều trị triệt để và hy vọng trong tương lai. Hiện nay các biện pháp điều trị nhằm vào các mục đích chính là cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh: hạn chế tối đa gãy xương và biến chứng của nó, giúp người bệnh tự lập trong sinh hoạt và cuộc sống. Các điều trị này gồm

-Ngăn ngừa hoặc kiểm soát các triệu chứng

-Tối đa hoá tính di động độc lập

-Phát triển khối xương tối ưu và sức mạnh cơ bắp.

-Chăm sóc gãy xương, phẫu thuật và nha khoa, vật lý trị liệu thường được khuyến. Sử dụng xe lăn, niềng răng, và các hỗ trợ di chuyển khác là phổ biến, đặc biệt với nhiều loại OI nghiêm trọng

Cho đến nay, không có loại thuốc hay phác đồ điều trị cho chứng rối loạn này. Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu

Điều trị phẫu thuật

Một phẫu thuật được gọi là “rodding” thường xuyên được xem xét. Điều trị này là chèn thanh kim loại qua chiều dài của xương dài để tăng cường và ngăn ngừa hoặc sửa chữa dị tật.

Phương pháp điều trị này thường được thực hiện ở chân và cánh tay khi cần thiết. Rodding không chỉ sửa chữa xương bị cong, mà còn hỗ trợ bên trong giúp ngăn ngừa gãy xương. Độ tuổi của trẻ em được thực hiện thủ thuật này phụ thuộc rất nhiều vào kích thước của xương, nhưng nó thường xuyên được thực hiện trên trẻ em hai hoặc ba tuổi.

Cần cân nhắc về ưu và nhược điểm của thủ thuật này với bác sĩ phẫu thuật trước khi quyết định.

Điều trị bằng thuốc: Có nhiều thuốc đã được nghiên cứu nhưng cho đến nay, các thuốc ức chế quá trình hủy xương như nhóm bisphosphonate là thuốc được nghiên cứu nhiều nhất và cho kết quả khá khả quan. Thuốc pamidronate được truyền tĩnh mạch 3 tháng/lần, có tác dụng giảm đau, tăng mật độ và hạn chế gãy xương. Tuy nhiên, giá thuốc quá cao đối với thu nhập của nhiều gia đình người bệnh, nên gặp nhiều khó khăn trong việc điều trị.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

http://www.medterms.com/script/main/art.asp?articlekey=4679

http://www.oif.org/site/PageServer?pagename=fastfacts

http://bones.emedtv.com/osteogenesis-imperfecta/osteogenesis-imperfecta-symptoms.html

Read Full Post »

Ung thư dạ dày ngày càng trở nên phổ biến và chủ yếu ảnh hưởng đến người lớn tuổi. Hơn hai phần ba người bị ung thư dạ dày đã trên 65 tuổi. Đa số các trường hợp được tìm thấy ở giai đoạn muộn nên thật khó khăn để điều trị. Vì vậy mà tỉ lệ tử vong trở nên cao hơn. Thế nên tìm hiểu về ung thư dạ dày để phát hiện sớm và phòng chống cho bản thân là rất cần thiết.

Ung thư dạ dày là gì?

Ung thư dạ dày là sự tăng trưởng của tế bào ung thư ở niêm mạc và thành dạ dày.

Các triệu chứng của ung thư dạ dày

Đôi khi bệnh ung thư có thể phát triển trong dạ dày một thời gian dài trước khi nó gây ra các triệu chứng. Trong giai đoạn đầu, ung thư dạ dày có thể gây ra các triệu chứng sau đây:

  • Khó tiêu, khó chịu dạ dày hoặc ợ nóng
  • Buồn nôn
  • Mất cảm giác ngon miệng
  • Mệt mỏi

Khi ung thư lớn hơn, nó có thể gây ra các triệu chứng sau đây:

  • Máu trong phân hoặc phân có màu đen
  • Một cảm giác cồng kềnh sau khi ăn, ngay cả khi ăn một lượng nhỏ
  • Ói mửa sau bữa ăn
  • Sụt cân ngoài ý muốn
  • Đau bụng, đặc biệt là sau bữa ăn
  • Sự yếu ớt và mệt mỏi

Nhiều triệu chứng trên được gây ra bởi các bệnh khác hơn là ung thư. Tuy nhiên, nếu bạn có bất kỳ những triệu chứng trên nào thì nên chú ý. Ung thư dạ dày nếu được phát hiện sớm thì cơ hội điều trị sẽ cao hơn

Nguyên nhân

Cơ hội bị ung thư dạ dày cao hơn nếu đã có nhiễm trùng dạ dày gây ra bởi vi khuẩn gọi là Helicobacter pylori. Ngoài ra các yếu tố sau đây cũng tạo nguy cơ cao:

  • Đã có viêm dạ dày
  • Có một người thân đã có ung thư dạ dày
  • Khói thuốc lá
  • Lạm dụng rượu
  • Là một người Mỹ gốc Phi, gốc Tây Ban Nha Mỹ, người Mỹ gốc Á Thái Bình Dương
  •  Có polyp dạ dày
  • Là nam giới

Chẩn đoán và xét nghiệm

Nội soi để kiểm tra được lựa chọn đầu tiên. Một ống sáng, mỏng sẽ được đặt vào miệng của bệnh nhân để vào dạ dày.

Trong quá trình nội soi có thể sinh thiết một mẫu của dạ dày để kiểm tra các tế bào ung thư. Mẫu này sau đó được gửi đến một phòng thí nghiệm, nơi nó được nhìn dưới kính hiển vi để xác định xem nó có phải là ung thư.

Điều trị

Điều trị ung thư dạ dày bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hoặc kết hợp các phương pháp điều trị. Việc lựa chọn điều trị phụ thuộc vào loại ung thư là chỉ trong dạ dày hoặc nó đã lan rộng đến những nơi khác trong cơ thể. Tuổi tác và sức khỏe tổng thể cũng sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn điều trị.

Phòng chống

Không có cách nào để ngăn chặn ung thư dạ dày. Tuy nhiên, có thể giúp giảm nguy cơ ung thư dạ dày bằng cách không hút thuốc và hạn chế uống rượu. Ngoài ra, một chế đọ ăn uống giàu trái cây tươi và rau quả nhiều vitamin C có thể giảm nguy cơ bị ung thư dạ dày. Vitamin C được tìm thấy trong thực phẩm như cam, bưởi, bông cải xanh.

Nguồn:

http://familydoctor.org/familydoctor/en/diseases-conditions/stomach-cancer.printerview.all.html

http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/stomachcancer.html

Read Full Post »