Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Phúcmạc-mạc treo-mạc nối’ Category

TÓM TẮT
Đau hố chậu phải ở những cô gái trẻ có thể liên quan đến một số bệnh lý của đường tiêu hóa và đường tiết niệu. Mặt khác, u mạch bạch huyết trong khoang phúc mạc là cực kỳ hiếm. Chúng tôi báo cáo trường hợp của một phụ nữ trẻ với cơn đau ở hố chậu phải gây ra bởi một u nang mạch bạch huyết. Bệnh nhân nữ người da trắng 17 tuổi khai đau bụng ở hố chậu phải và hông lưng trong 1 tháng. Bệnh nhân không sốt và các xét nghiệm tại lab đều không có bất thường. CT và MRI bụng cho thấy một khối u nang (đường kính tối đa 60 mm) trong các mô mỡ sau manh tràng kết nối với manh tràng và ruột thừa. Bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn khối u và ruột thừa. Kết quả giải phẫu bệnh phù hợp với chẩn đoán u mạch bạch huyết mạc treo. Trường hợp này cho thấy một nguyên nhân hiếm gặp nhưng có khả năng gây đau hố chậu phải ở phụ nữ trẻ mà được cân nhắc trong chẩn đoán phân biệt.

GIỚI THIỆU
U mạch bạch huyết (Lymphangioma) là khối u lành tính hiếm gặp, thường khu trú ở đầu và cổ của trẻ em. U mạch bạch huyết trong khoang phúc mạc là cực kỳ hiếm gặp, phổ biến nhất trong mạc treo, mạc nối, mạc treo kết tràng, và sau phúc mạc. Chúng chưa có sinh bệnh học rõ ràng, nhưng được xem chủ yếu là do nguồn gốc bẩm sinh. Chúng tôi báo cáo trường hợp của một phụ nữ trẻ với đau ruột thừa gây ra bởi u nang mạch bạch huyết ở hố chậu phải: một chẩn đoán phân biệt hiếm gặp nhưng khả thi.

TRƯỜNG HỢP BÁO CÁO
Một bệnh nhân nữ 17 tuổi trình bày với một cơn đau bụng âm ỉ ở hố chậu phải và hông lưng khoảng 1 tháng. Khám bụng cho thấy tăng nhu động ruột và đau vùng quanh rốn và hố chậu phải ở điểm Mc-Burney. Bệnh nhân không sốt, các xét nghiệm ở lab không có bất thường, dấu ấn ung thư (AFP, CEA, CA 19-9, CA 15-3, CA125, TPS) đều âm tính.


Hình 1: MRI bụng, ảnh TSE T2 đứng dọc và ngang cho thấy sự hiện diện của nang chứa đầy dịch lỏng ở các mô mỡ sau manh tràng

Siêu âm và CT-scan bụng cho thấy sự hiện diện của một khối u nang (đường kính tối đa 60 mm) trong mô mỡ sau manh tràng, nó nằm sát manh tràng, ruột thừa và hồi tràng. Ngoài ra, CT-scan cho thấy sự hiện diện của nhiều cấu trúc mật độ thấp trong thân và đuôi tụy.

Trong khoảng thời gian nhập viện, MRI bụng được thực hiện, kết quả cho thấy trong mô mỡ sau manh tràng có sự hiện diện của một cấu trúc chứa đầy chất lỏng có đường kính 60 mm dính liền với manh tàng do có sự liên kết mô (Hình 1). Các nang còn lại xuất hiện  ở tụy và thận phải.


Hình 2: U nang mạch bạch huyết chứa đầy chất lỏng với cạnh nhiều vòng và nội vách (mẫu được lấy trong lúc mổ)

Bệnh nhân được mổ bụng ra thì thấy một khối màu vàng hình bầu dục với đường kính 6 cm phát sinh từ mạc treo ruột của đoạn cuối hồi tràng và có một phần dính với ruột thừa, khối này  có dạng nang chứa đầy dịch (Hình 2). Chúng tôi đã cắt bỏ hoàn toàn khối u và ruột thừa, nhưng không cắt hồi tràng. Xét nghiệm giải phẫu bệnh phù hợp với chẩn đoán u mạch bạch huyết mạc treo (Hình 3). Bệnh nhân đã được theo dõi trong hai năm với kiểm tra định kỳ và siêu âm bụng, và không có sự tái phát xảy ra.


Hình 3: Nhiều nang bạch huyết giãn, một số chứa đầy bạch huyết và được bao phủ bởi các tế bào nội mô

THẢO LUẬN
U mạch bạch huyết mạc treo trong ổ bụng là một khối u ít gặp mà thường xuất hiện ở độ tuổi trước trưởng thành. Khối u này có một tỷ lệ xấp xỉ 1/20000 và có 1/250000 nhập viện, và nó thường gặp ở nam giới hơn nữ giới với một tỷ lệ nam/nữ 3:1. Trong ổ phúc mạc, mạc treo ruột non (70%) là vùng phổ biến nhất, với 50-60% các u nang nằm ở mạc treo hồi tràng.

Nguyên nhân của u mạch bạch huyết mạc treo được coi là bẩm sinh, do sự phát triển  bất thường lúc phôi thai của hệ thống bạch huyết gây tách biệt mô bạch huyết: thực ra trong bệnh nhân của chúng tôi, những u nang khác (ở thận và tụy) đã được tìm thấy trong CT/MRI bụng.

Chẩn đoán tiền phẫu thuật thường khó khăn do diễn tiến lâm sàng không biểu hiện rõ. Phóng xạ  là một công cụ chẩn đoán hữu ích, nhưng chẩn đoán xác định phải được dựa trên giải phẫu bệnh sau khi phẫu thuật cắt bỏ khối u. Trong hóa miễn dịch: các tế bào nội trung bì cho phản ứng miễn dịch với cytokeratin và âm tính với yếu tố VIII. Nhuộm 2 lần với Prox1 và CD31 là phương pháp đáng tin cậy nhất để định dạng tế bào nội mô của khối u.

Nguồn: http://jscr.co.uk/2012/06/upper-gi-surgery/an-unusual-cause-of-%E2%80%9Cappendicular-pain%E2%80%9D-in-a-young-girl-mesenteric-cystic-lymphangioma/

Read Full Post »

Các động mạch mạc treo cung cấp máu cho ruột non và ruột già. Thiếu máu mạc treo xảy ra khi một hay nhiều nhánh của các động mạch này bị hẹp hay tắc nghẽn, làm cho ruột không nhận đủ lượng oxy cần thiết để thực hiện quá trình tiêu hóa. Mặc dù có nhiều tiến bộ về kỹ thuật trong y học, thiếu máu mac treo vẫn còn gặp nhiều khó khăn để nhận biết do các dấu hiệu và triệu chứng không đặc hiệu dễ nhầm lẫm với các bệnh lý khác của bụng. Thiếu máu mạc treo thường xảy ra ở những người già trên 60 tuổi ,có tiền sử hút thuốc lá, tăng cholesterol máu và các bệnh như rối loạn nhịp tim, xơ vữa động mạch, suy tim sung huyết, rối loạn đông máu, bốc tách động mạch chủ, rối loạn bất thường của mạch máu như chứng loạn sản sợi cơ và viêm động mạch.Mặc dù,thiếu máu mạc treo là một bệnh không phổ biến chiếm khoảng 0,1%  trong các trường hợp nhập viện, nhưng nếu chẩn đoán chậm trễ,ruột sẽ nhanh chóng bị hoại tử dẫn đến suy cơ quan, nhiễm trùng huyết, và tử vong.Dó đó, chẩn đoán sớm là hết sức cần thiết để ngăn chặn nhồi máu ruột xảy ra.

Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của thiếu máu mạch treo:

Thuyên tắc động mạch mạc treo:

Đây là nguyên nhân phổ biến nhất của thiếu máu mạc treo chiếm khoảng 40% -50% các trường hợp. Thường liên quan đến tắc mạch mạc treo cấp.Tiên lượng xấu với 70% trường hợp tử vong.

Động mạch mạc treo tràng trên bị ảnh hưởng nhiều nhất. Trong khi đó, các nhánh của động mạch mạc treo tràng dưới hiếm khi bị ảnh hưởng do có đường kính nhỏ. Thường do cục huyết khối đến từ tim.

Yếu tố nguy cơ bao gồm rối loạn nhịp tim ( rung nhĩ là phổ biến nhất), nhồi máu cơ tim , bệnh van tim , khiếm khuyết cấu trúc tim ( shunt phải trái )

Huyết khối động mạch mạc treo:

Chiếm khoảng 25% – 30% trường hợp thiếu máu mạc treo với tỉ lệ tử vong 90%. Thường liên quan đến tắc mạch mạc treo mãn với các triệu chứng mơ hồ và âm ỉ. Tỉ lệ tử vong cao là do huyết khối thường ở gần vị trí xuất phát của động mạch mạc treo tràng trên nên dẫn đến một lượng lớn ruột hoại tử . Thường xảy ra trên nền bệnh lý xơ vữa động mạch và thường gặp ở những người lớn tuổi.

Huyết khối tĩnh mạch mạc treo:

Là nguyên nhân ít phổ biến nhất của thiếu máu mạc treo khoảng 10% trường hợp với một tỷ lệ tử vong 20-50%. Thường xảy ra ở những người trẻ với các triệu chứng giống như trong huyết khối động mạch mạc treo.Các triệu chứng có thể xảy ra cấp tính hay theo thời gian tùy thuộc vào tốc độ tiến triển của huyết khối. Yếu tố nguy cơ bao gồm tình trạng tăng đông máu (yếu tố V Ledien, thiếu protein C, …), phẫu thuật gần đây, bệnh u ác tính, và xơ gan.

Nguyên nhân không do tắc:

Chiếm khoảng 20 đến 30% các trường hợp với tỷ lệ tử vong từ 50 đến 90%. Đây là loại thiếu máu mạc treo xảy ra trong tình trạng giảm lượng máu chảy trong lòng mạch khi không có sự hiện hiện của tắc động mạch hoặc tĩnh mạch, thường liên quan đến giảm cung lượng tim .Yếu tố nguy cơ : sốc tim , suy tim sung huyết, rối loạn nhịp tim, nhiễm trùng huyết, hạ huyết áp,các  thuốc gây co mạch (Digoxin, Cocaine, thuốc chẹn Beta…)

Triệu chứng của thiếu máu mạch treo:

– Trong thiếu máu mạc treo mạn tính thường xuất hiện với đau bụng dữ dội từ 15 đến 60 phút sau khi ăn.Cơn đau này có thể xảy ra ở bất cứ vị trí nào của bụng, nhưng phổ biến nhất là xảy ra ở phần bụng trên.Cơn đau có thể kéo dài khoảng 60 đến 90 phút và sau đó biến mất.Nhưng nó có xu hướng trở lại trong những lần sau đó sau khi ăn, làm người bệnh không dám ăn vì sợ cơn đau diễn ra dẫn đến sụt cân; kèm theo tiêu chảy, buồn nôn, nôn ói, chướng hơi, táo bón.

– Trường hợp thiếu máu mạc treo cấp thường cơn đau khởi phát đột ngột với diễn tiến rầm rộ và dữ dội hơn cũng thường kèm theo buồn nôn hay nôn ói.

Chẩn đoàn cận lâm sàng:

Xét nghiệm máu : Số lượng bạch cầu tăng, nhưng nó không đặc hiệu và khi số lượng bạch cầu bình thường cũng không loại trừ bệnh.Lactate máu tăng, tuy nhiên nó thường tăng vào giai đoạn muộn của bệnh sau khi nhồi máu ruột xảy ra.Ngoài ra, tình trạng toan chuyển hóa và tăng amylase máu cũng được phát hiện nhưng cũng không đặc hiệu.

X-Quang bụng đứng : thường không phát hiện được gì trong giai đoạn sớm của bệnh nhưng nó cũng giúp loại trừ hơi tự do trong ổ bụng.Khi thiếu máu mạc treo tiến triển có thể thấy thành ruột dày, quai ruột căng to.

Chụp mạch máu: là tiêu chuẩn để chẩn đoán và điều trị tắc mạch mạc treo.Cho phép đánh giá hình ảnh mạch máu giúp phát hiện vị trí hẹp, tắc nghẽn mạch máu ; đồng thời giúp can thiệp điều trị như truyền papaverine hay tan huyết khối vào động mạch trong quá trình tiến hành chụp.Tuy nhiên đây là kỹ thuật xâm lấn và thương chỉ được trang bị ở cách bệnh viện chuyên khoa.

             

CT scan: là kỹ thuật hình ảnh nhanh, ít xâm lấn và được sử dụng rộng rãi hơn so với kỹ thuật chụp mạch máu. Ngoài phát hiện các bệnh lý về mạch máu như thuyên tắc,hẹp, huyết khối,phình động mạch;còn cho hình ảnh bề dày, độ giản của ruột, phù mạch treo hay các bất thường của các cơ quan khác trong ổ bụng.

                  

– Siêu âm Doppler : cho phép đánh giá các vấn đề về cấu trúc mạch máu,lưu lượng máu. Tuy nhiên, độ chính xác của nó bị hạn chế ở các bệnh nhân béo phì, có khí trong ruột, hay là các thuyên tắc ở ngoại vi mạch máu.

–  MRI: có khả năng cung cấp hình ảnh chính xác của hệ thống mạch máu mạc treo.Nhưng cũng không được trang bị rộng rãi và có sự hạn chế thời gian nên làm trì hoãn can thiệp phẩu thuật.

Nguồn :

http://www.vascularweb.org/vascularhealth/Pages/mesenteric-ischemia.aspx

http://www.cdemcurriculum.org/ssm/gi/mesenteric_ischemia/mesenteric_ischemia.php

Read Full Post »

TÓM TẮT
Thoát vị bàng quang qua bìu bẹn (IBH – Inguinoscrotal Bladder Hernia) là bệnh hiếm gặp, nó chiếm 1-4% các trường hợp thoát vị bẹn. Thoát vị bàng quang cỡ lớn qua bìu bẹn (MIBH – Massive Inguinoscrotal Bladder Hernia), trong đó > 50% bàng quang bị đẩy vào trong túi thoát vị, là vô cùng hiếm. Hậu quả là bệnh nhân có thể bị các bệnh khác do tình trạng thoát vị như trên. Chúng bao gồm nhiễm trùng huyết, tắc nghẽn niệu quản một hoặc cả hai bên, suy thận và nghẹt thở với thiếu máu cục bộ thứ phát của thành bàng quang và vỡ bàng quang. IBH được chẩn đoán phổ biến nhất tại thời điểm phẫu thuật. Điều này có thể dẫn đến biến chứng đáng kể cho bệnh nhân, đặc biệt nếu không được phát hiện trong quá trình phẫu thuật.

GIỚI THIỆU
Bàng quang có liên quan đến 1-4% của tất cả các trường hợp thoát vị bẹn, tỷ lệ này tăng lên đến 10% ở nam giới béo phì trong độ tuổi 50. Nam giới chiếm 70% các trường hợp thoát vị bàng quang qua bìu bẹn, hầu hết xảy ra ở phía bên phải và thường là thoát vị trực tiếp. Các vùng bẹn và đùi chiếm tỷ lệ tương ứng là 75% và 23%, còn lại 2% là các trường hợp xảy ra bên ngoài bẹn. Thoát vị bàng quang qua bìu bẹn cỡ lớn (khi > 50% bàng quang bị lệch ra ngoài vị trí trong khung chậu) là cực kỳ hiếm, hiện có chưa đến 120 báo cáo của thoát vị bàng quang qua bìu bẹn cỡ lớn trong y văn.

TRƯỜNG HỢP BÁO CÁO
Bệnh nhân nam 56 tuổi nhập viện với bệnh sử là sưng liên tục bìu phải từ 12 tháng trước, triệu chứng đường tiết niệu dưới ở mức trung bình, và cuối cùng là hiện tượng co bìu để tống hết nước tiểu ra ngoài một cách có chủ ý.

Trên thăm khám thực thể, ghi nhận bụng mềm, không có khối bất thường, không đau bụng, có một khối sưng không đau ở vùng bìu bẹn. Tuyến tiền liệt được mở rộng, PSA (Prostate-Specific Antigen) bình thường, XN nước tiểu không có vi khuẩn. Siêu âm không giúp ích trong việc hỗ trợ chẩn đoán và MRI được thực hiện (hình 1)


Hình 1: Hình MRI T2 cho thấy một lượng lớn chất lỏng lắng đọng ở bìu phải, gây hiệu ứng khối ở tinh hoàn bên phải.

Phẫu thuật (hình 2) cho thấy sa bàng quang bán phần ngoài phúc mạc thông qua lỗ bẹn trong, vào bìu. Sau khi đưa bàng quang về vị trí giải phẫu bình thường của nó, phẫu thuật bằng lưới không căng (tension-free mesh) được thực hiện. Bệnh nhân sau đó phục hồi tốt và không có biến chứng.


Hình 2: Thoát vị bàng quang (BH) với túi thoát vị, đi kèm với ống dẫn tinh (mũi tên lớn) và dây chằng tinh (mũi tên nhỏ)

THẢO LUẬN
Thoát vị bàng quang cỡ nhỏ thường không có triệu chứng trong khi bệnh nhân thoát vị bàng quang cỡ lớn qua bìu bẹn (MIBH), như trong trường hợp của chúng tôi, thường được báo cáo với dấu hiệu tiểu tiện giai đoạn 2 là sự co bên ngoài của vùng bìu bẹn để tống nước tiểu.

Sinh lý bệnh của thoát vị bàng quang qua bìu bẹn phụ thuộc vào điểm yếu của thành bụng và bàng quang. Sự hiện diện của bí tắc đường niệu, chẳng hạn như mở rộng tuyến tiền liệt hoặc hẹp niệu đạo, bàng quang làm tăng áp lực trong ổ bụng trong lúc tiểu tiện do đó dẫn đến thoát vị. Điểm yếu của sàn chậu, không gian bị choáng bởi một khối bất thường ở vùng chậu cũng có thể dẫn đến thoát vị. Cuối cùng, béo phì có thể liên quan và thoát vị cũng có thể là hậu quả của chấn thương hoặc biến chứng phẫu thuật.

Các biến chứng của thoát vị bàng quang qua bìu bẹn bao gồm sỏi bàng quang (cystolithiasis), tiểu ngược dòng (vesico-ureteric reflux), nhiễm trùng huyết, tắc nghẽn niệu quản một hoặc hai bên, suy thận và nghẹt thở với thiếu máu cục bộ thứ phát của thành bàng quang và vỡ bàng quang .

Việc chẩn đoán trước mổ của thoát vị bàng quang là cần thiết để tránh gây biến chứng do điều trị phẫu thuật. Tổn thương bàng quang xảy ra khoảng 12% trong số bệnh nhân . Kĩ thuật VCUG phải được thực hiện ở những bệnh nhân nghi thoát vị bàng quang từ trước. Kĩ thuật phát hiện thoát vị bàng quang qua bìu bẹn có thể bao gồm siêu âm, CT scan và MRI; những kĩ thuật được dùng để hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch phẫu thuật, dị dạng giải phẫu và các biến chứng có thể được xác định. Sinh thiết mô trong túi thoát vị thấy sự tương đồng mới mô bàng quang, sự thay đổi kích thước trong ống bẹn trước và sau khi tiểu tiện hay sự liên tục giữa bàng quang và khối thoát vị có thể hỗ trợ chẩn đoán xác định thoát vị bàng quang.

Phần lớn thoát vị bàng quang được phát hiện trong lúc phẫu thuật, chỉ có 7% được chẩn đoán trước mổ và 16% sau mổ do biến chứng. Thoát vị bàng quang qua ống  bẹn được phân loại thành trong phúc mạc, cạnh phúc mạc hoặc ngoài phúc mạc – hầu hết các trường hợp là cạnh phúc mạc (60%), trường hợp hoàn toàn trong phúc mạc là rất hiếm, trong khi trường hợp ngoài phúc mạc chiếm 30% .

Thoát vị bàng quang qua bìu bẹn gặp phải trong quá trình phẫu thuật nên được điều trị đúng quy chuẩn. Cắt bỏ bàng quang chỉ nên được áp dụng cho phần hoại tử của bàng quang, hoặc nếu có sự hiện diện của bệnh ác tính ở bàng quang.

Trường hợp thoát vị hiếm gặp này là một lời nhắc nhở cần thiết để các bác sĩ tránh gây thiệt hại đến bàng quang bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật. Những tổn thương này có thể không được phát hiện trước mổ và với trường hợp tổn thương trong phúc mạc, sự tử vong là hoàn toàn có thể xảy ra.

Nguồn:
http://jscr.co.uk/2012/05/colorectal-surgery/massive-inguinoscrotal-bladder-hernia/

Read Full Post »

Nguồn: http://www.ahealthstudy.com/diseases/mesenteric-lymphadenitis

http://www.riversideonline.com/health_reference/Teen-Health/DS00881.cfm

http://www.epharmapedia.com/diseases/profile/1334/Mesenteric_Lymphadenitislangen.html

Định nghĩa:

Tập hợp các tế bào đóng vai trò quan trọng trong khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể là hạch bạch huyết. Khi các hạch bạch huyết được tìm thấy trong mạc treo bị viêm, thường là kết quả của một nhiễm trùng đường ruột, viêm hạch mạc treo xảy ra.

Có khoảng 26 feet của ruột trong ổ bụng của bạn. Ruột là cơ quan duy nhất trong cơ thể bạn có thể “tự do di chuyển trong khoang của nó”, nhưng mạc treo đã giới hạn chuyển động của nó lại, nếu không thì ruột có thể xoắn, gây ra tắc nghẽn.

Viêm hạch mạc treo xảy ra chủ yếu ở trẻ em và thanh thiếu niên, thường có các dấu hiệu và triệu chứng tương tự viêm ruột thừa. Tuy nhiên, viêm hạch mạc treo hiếm khi nghiêm trọng và bệnh có thể thoái lui trong vòng một vài ngày hoặc vài tuần, điều này làm nó khác với viêm ruột thừa ở trẻ khỏe mạnh, những người không có triệu chứng, viêm hạch mạc treo cũng có thể xảy ra. Sưng hạch bạch huyết được tìm thấy trong hình ảnh xét nghiệm cho những suy nghĩ về vấn đề khác. Viêm hạch mạc treo không có triệu chứng không phải là mối quan tâm và ít khi cần đánh giá thêm.

Nguyên nhân:

Các hạch bạch huyết đóng một vai trò quan trọng trong khả năng chống lại bệnh tật của cơ thể bạn. Khoảng 600 hạch, rải rác khắp cơ thể, bắt giữ và tiêu diệt virus, vi khuẩn và các vi sinh vật gây hại khác. Trong quá trình này, các hạch ở gần ổ nghiễm trùng có thể sưng lên và đau. Ví dị như các hạch ở cổ có thể sưng lên khi bạn bị đau họng. Các hạch khác cũng thường sưng lên như hạch dưới cằm, nách và bẹn.

Mặc dù ít được biết đến, nhưng bạn còn có hạch bạch huyết ở mạc treo – là lớp mô mỏng gắn ruột vào thành sau của bụng. Nguyên nhân phổ biến gây viêm hạch mạc treo là nhiễm virus, như viêm dạ dày – ruột, nhưng không chính xác mà được gọi là sốt siêu vi. Một số trẻ em mắc hội chứng nhiễm trùng đường hô hấp trên trước hoặc trong khi bị viêm hạch mạc treo thì các chuyên gia suy đoán rằng có thể có mối liên kết giữa chúng.

Ngoài ra, một trong những nguyên nhân gây viêm hạch mạc treo có thể là do nhiễm trùng huyết, với các bệnh đường ruột và các loại kí sinh trùng gây nên viêm. Đặc biệt phổ biến ở hồi tràng. Nhiều hạch đỏ và sưng, có 1 ít dịch viêm rỉ ra ổ bụng. Khi nội soi xoang bụng có thể nhìn thấy sự tập trung các bạch cầu trung tính từ máu vào các xoang bạch huyết, thực bào vi khuẩn. Một số bạch cầu bị thoái hóa có thể là nguyên nhân cho sự hình thành các mảnh vỡ tế bào hoặc biến đổi vật chất. Sự sưng to của hạch cũng là nguyên nhân làm tăng sản tế bào mầm trung tâm và gia tăng tế bào miễn dịch.

Phân loại:

Viêm hạch mạc treo là do nhiễm khuẩn đường hô hấp trên do hồi tràng. Có 2 dạng viêm hạch mạc treo:

1. Viêm hạch mạc treo cấp tính: 

Bệnh này thường do nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Biểu hiện lâm sàng là: sốt, đau bụng, nôn, tiêu chảy hoặc táo bón. Đôi khi đau ở bụng dưới phải, như đau bụng, nhưng cũng đau các bộ phận khác trong cơ thể, vì vậy có thể dễ chẩn đoán nhầm là viêm ruột thừa cấp tính và khi phẫu thuật mới chứng minh được là viêm hạch mạc treo. Bệnh này là do nhiễm virus và thường tự phục hồi (điều này cho thấy sự khác biệt giữa viêm hạch mạc treo và các bệnh về đường tiêu hóa)

2. Viêm hạch mạc treo mãn tính:

Thường gây ra bởi bệnh lao, lao ruột, lao viêm phúc mạc, và với bệnh sử tiếp xúc với bệnh lao. Biểu hiện lâm sàng của bệnh lao với các triệu chứng ngộ độc mãn tính, sốt nhẹ, đổ mồ hôi về đêm, mệt mỏi, chán ăn, đau bụng, có thể là một phần tư dưới phải hoặc ở phía trên bên trái hạch bạch huyết đau, sờ thấy rõ ràng. Chống bệnh lao hiệu quả cần điều trị tổng quát nói chung. Cần thiết có thể xem xét phẫu thuật.

Các triệu chứng:

Các dấu hiệu và triệu chứng của viêm hạch mạc treo có thể kéo dài một vài ngày hoặc hiếm khi là 1 tuần. Chúng bao gồm:

Đau bụng, thường tập trung ở 1/4 dưới phải, nhưng đôi khi cơn đau có thể lan ra rộng hơn.

Đau khắp bụng.

Sốt.

Tùy thuộc vào những gì gây ra bệnh, có thể kèm theo các triệu chứng khác như:

Tiêu chảy

Buồn nôn và nôn mửa

Cảm giác khó chịu.

Trong một số trường hợp, hạch bị sưng được phát hiện trong các xét nghiệm cận lâm sàng cho suy nghĩ về một vấn đề khác. Viêm hạch mạc treo không gây ra các triệu chứng cũng cần đánh giá thêm. Đau bụng ở trẻ em và thanh thiếu niên, có thể khó chẩn đoán được. Nói chung, hãy gọi bác sĩ ngay lập tức nếu trẻ có các biểu hiện:

Đau bụng đột ngột, nghiêm trọng.

Đau bụng với triệu chứng sốt

Đau bụng kèm tiêu chảy và ói mửa.

Ngoài ra, cũng nên gọi bác sĩ nếu con bạn có những triệu chứng sau, mà không thuyên giảm trong vài ngày:

Đau bụng với sự thay đổi thói quen đi đại tiện.

Đau bụng kèm ăn không ngon, chán ăn

Đau bụng và gây trở ngại cho giấc ngủ.

Chẩn đoán:

Thường xuyên phân tích công thức máu: Interleukin tăng, thỉnh thoảng tế bào lympho cũng tăng, tỉ lệ các tế bào đơn nhân cũng tăng.

Các biến chứng:

Thường thi viêm hạch mạc treo hiếm khi gây ra nhiều biến chứng. Nhưng nếu hạch sưng to gây ra do nhiễm trùng bởi vi khuẩn nghiêm trọng và không được theo dõi điều trị, có thể lây lan vào máu, gây ra nhiễm trùng có khả năng đe dọa tính mạng (nhiễm trùng huyết). Cần theo dõi bệnh nhân về các dầu hiệu đau bụng để chữa trị kịp thời khi bệnh chuyển sang hướng khác.

Read Full Post »

I TỔNG QUAN:

Chúng tôi mô tả một người phụ nữ 87 tuổi với một khối u đệm đường tiêu hóa lớn ở hồi tràng (GIST) gây ra tràn máu phúc mạc. CT scan cho thấy một khối lớn không đồng nhất đo khoảng 13 cm × 11 cm trong vùng chậu và phúc mạc, tăng đậm độ không đồng nhất. Khối u đã được chẩn đoán là loại u GIST nguồn gốc từ đường tiêu hóa. BN trải qua cuộc mở bụng khẩn cấp và một u GIST hồi tràng bị vỡ được tìm thấy khoảng 130cm2 nằm ở khoảng giữa hậu môn đến dây chằng Treitz. Tràn máu phúc mạc gây ra bởi u GIST hồi tràng vỡ là một điều hiếm gặp. Xuất huyết trong khối u lớn dẫn đến vỡ vỏ bao có thể gây ra tràn máu phúc mạc ở ca lầm sàng này.

II GIỚI THIỆU

Khối u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) là chỉ là một nhóm phụ lớn của các khối u trung mô đường tiêu hóa. GIST phát sinh từ  đường tiêu hóa thường gặp trong dạ dày và ruột non. GIST có nguồn gốc từ ruột non hiếm khi gây ra tràn máu phúc mạc. Ở đây, chúng tôi mô tả một trường hợp tương đối hiếm hoi của u GIST hồi tràng gây tràn máu phúc mạc.

III TRƯỜNG HỢP BÁO CÁO

Một phụ nữ 87 tuổi có các triệu chứng của suy giảm ý thức. Tiền căn bản thân và gia đình không có ghi nhận gì đặc biệt. Nhiệt độ là 36,7 ° C, huyết áp 148/82 mmHg, nhịp tim là 72 nhịp / phút và đều. BN có thiếu máu nhẹ, nhưng không có vàng da. Hệ thần kinh không phát hiện bất thường và hạch không sờ chạm. Ấn đau ở vùng bụng dưới bên phải. Các cận lâm sàng cho thấy:

  • RBC: 315 × 10 4/μl [bình thường 380-500 × 10 4/μL]
  • WBC: 10 500/μL (BT  4000-9000/μL )
  • PLT:  29,8 × 10 4/ml
  • Hgb 10.1 g / dL ( 12-16 g/dL).
  • Men gan và đường mật, AST, ALT, ALP, leucin aminopeptidase (LAP), và γ glutamyltranspeptidase (γ-GTP) là bình thường ngoại trừ  LDH là 336 IU/L (BT 106-211 IU/L).
  • CRP: 30,3 mg / dL (BT  <0,5 mg/dL).
  • Đánh giá chức năng thận: urê máu là 38,0 mg/dL (BT 8-20 mg/dL) và creatinine bình thường.
  • Huyết thanh học cho virus viêm gan B và C đều âm tính.
  • Protein và đường niệu đều âm tính.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT scan) đã cho thấy một khối lớn không đồng nhất kích thước khoảng 13 cm x 11 cm trong chậu và phúc mạc, với đậm đô không đồng đều.

Dựa trên việc chẩn đoán hình ảnh, khối u này đã được chẩn đoán là một u GIST nguồn gốc từ đường ruột, mạc nối, dù nó cần được phân biệt với khối u buồng trứng hoặc ung thư biểu mô tuyến của ruột non. Bệnh nhân trải qua một cuộc mở bụng cấp cứu.

Hình 1: CT scan cho thấy một khối không đồng nhất với đậm độ không đều (mũi tên trắng) trong vùng chậu và phúc mạc (mũi tên đen).

Phẫu thuật mở bụng, khối u đặc có cuống khoảng 13 cm x 11 cm, tiết diện khoảng 130 cm2 từ hậu môn đến dây chằng Treitz,  và thấy sự phát triển về phía bên ngoài lòng ruột (hình 2A). Khối u đã vỡ không có di căn phúc mạc, và cắt bỏ một phần của hồi tràng. Khối u có màu nâu đỏ, và  thấy cục đông máu đang chảy máu (hình 2B).

Hình 2: Hình ảnh đại thể khối u. A: Một khối u lớn (đường kính 13 cm x 11 cm) xuất phát từ hồi tràng với tăng trưởng bên ngoài lòng ống; B: Diện cắt cho thấy các cục đông máu đang xuất huyết trong khối u.

Xét nghiệm mô học của mẫu u cắt bỏ cho thấy sự tăng sinh dày đặc một số lượng lớn các tế bào bất thường giống như các tế bào ác tính không có  phân bào (hình 3A). Không có hình ảnh phân bào là hiển nhiên. Các tế bào khối u đã thâm  nhập  ở các lớp dưới thanh mạc (hình 3B).

Hình 3: Hình ảnh vi thể của khối u. A: mô học cho thấy có sự tăng sinh dày đặc của các tế bào bất thường biệt hóa kém ( nhuộm HE, × 100). B: các tế bào ác tính hiện diện trong lớp dưới thanh mạc (mũi tên đen) (HE, × 20)

Xét nghiệm miễn dịch âm tính đối với CD 34, sợi actin cơ trơn (SMA), desmin và protein S-100, nhưng lại dương tính cho CD117. Dựa vào những kết quả trên, khối u này đã được chẩn đoán là GIST ác tính. Không có biến cố sau phẫu thuật. Bệnh nhân đã được theo dõi trong 16 tháng mà  không có bằng chứng tái phát.

IV THẢO LUẬN

  • GIST là khối u trung mô phổ biến nhất của đường tiêu hóa và biểu hiện bởi protein c-kit, còn được gọi là CD117, đây được coi là marker chỉ điểm giúp phân biệt u GIST với các khối u trung mô khác, chẳng hạn như u cơ trơn. Phần lớn các u GISTs xảy ra trong dạ dày (60% -70%) và ruột non (20% -30%). Khoảng 10% -30% bệnh nhân GIST có thể không có triệu chứng. U mô đệm ở dạ dày và ruột non thường kết hợp với đau bụng, xuất huyết tiêu hóa hoặc sờ thấy u. Tuy nhiên, GIST trong ruột non hiếm khi gây ra tràn máu phúc mạc. Tìm kiếm MEDLINE của y văn đã cho thấy chỉ có 10 trường hợp của GIST trong ruột non với tràn máu phúc mạc  kể từ năm 2000, bao gồm cả trường hợp hiện tại ở Nhật Bản.
  • Kích thước khối u lớn hơn 5 cm trong 9/10 trường hợp. Tuy nhiên, Hisaoka  đã báo cáo một trường hợp của GIST ruột non, kích thước khoảng 1 cm gây xuất huyết nội trong ổ bụng. Do đó, một u GIST nhỏ không chắc rằng sẽ có nguy cơ  ít chảy máu. Chúng tôi thấy rằng 7 trong số 10 bệnh nhân sống đến sáu mươi tuổi hoặc hơn và GIST chiếm ưu thế ở bệnh nhân cao tuổi. Tỷ lệ nam nữ  là 6:4. Các triệu chứng chính là đau bụng. Hai bệnh nhân bị mất ý thức, bao gồm cả trường hợp của chúng tôi, mà có thể liên quan đến chảy máu.
  • Cơ chế cơ bản của tràn máu phúc mạc có thể là do xuất huyết trong khối u dẫn đến tụ máu và khi vỏ bao khối u bị vỡ thì các thành phần máu và dịch từ khối u chảy ra ngoài. Trong ca lâm sàng hiện tại, có lẽ xuất huyết trong khối u dẫn đến vỡ vỏ bao gây ra tràn máu phúc mạc. Hiện nay, không có yếu tố tiên lượng nào được sử dụng để giúp dự đoán giai đoạn khối u. Sự phát triển sinh lý của khối u phụ thuộc vào vị trí (GIST phát sinh từ ruột non thường có kết quả kém thuận lợi hơn so với u trong dạ dày). Xạ trị và phẫu thuật đã được sử dụng ở trường hợp bệnh ác tính bao gồm xâm lấn để các cơ quan lân cận, mạc nối hoặc phúc mạc, khối u tái phát sau khi cắt bỏ, và di căn xa. Các yếu tố giải phẫu bệnh để xác định ác tính là kích thước khối u, hoạt động phân bào, hình dạng nhân tế bào, độ biệt hóa, tỷ lệ nhân so với bào tương, và xâm lấn niêm mạc. Bệnh nhân này được chẩn đoán với GIST ác tính bởi vì kích thước khối u và bị vỡ. Mặc dù di căn phúc mạc không thấy hiện diện ở bệnh nhân, chúng ta nên chú ý đến tái phát khối u bởi vì khối u đã bị vỡ. Bệnh nhân này vẫn còn sống đến 16 tháng sau khi phẫu thuật mà không có tái phát. Chúng ta nên cẩn thận theo dõi hình ảnh CT hoặc MRI và bệnh nhân này sẽ phải điều trị liệu pháp miễn dịch với thuốc kháng tế bào ung thư (mesilate imatinib) nếu xác định khối u tái phát.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT) và MRI là hữu ích cho việc chẩn đoán của GIST và diễn tiến của khối u. Bởi vì sự tương phản mô mềm cao, hình ảnh MRI cho thấy tốt u GIST có xu hướng  hoại tử và xuất huyết. Đặc biệt, quan sát thấy xuất huyết trong các khối u lớn càng lớn thì có hoại tử càng cao. Bởi vì GIST có thể bị vỡ và gây  tràn máu phúc mạc , như trong trường hợp hiện tại, hiện diện của sự xuất huyết  trong và  ngoài khối u được phát hiện. Không thể phân biệt u lành tính hay ác tính rõ ràng nếu chỉ đơn độc dựa vào những tổn thương trên hình ảnh. Gần đây đã được báo cáo rằng một u GIST tăng rõ ràng trên MRI có thể có chỉ số phân bào cao hơn mặc dù mối tương quan thấp. Để làm rõ mối tương quan giữa MRI và phát hiện bệnh lý, chúng ta nên thu thập và phân tích nhiều trường hợp của GIST. Bởi vì tràn máu phúc mạc, bệnh nhân của chúng tôi phải mở bụng khẩn cấp mà không làm MRI. Ngoài ra, báo cáo trước đó tăng độ tương phản CT cho thấy rằng mật độ của khối u và không đồng nhất sau khi tăng độ tương phản  phản ánh tiên lượng xấu và phản ứng của u với hóa trị liệu. Nghiên cứu sâu hơn về mối tương quan giữa chẩn đoán hình ảnh và những phát hiện bệnh lý của GIST chắc chắn cần thiết.
  • Trong kết luận, chúng tôi đã báo cáo trường hợp của một phụ nữ bị tràn máu phúc mạc  do u GIST ở hồi tràng gây ra. Cần thiết để biết rằng u GIST lớn có thể gây ra tràn máu phúc mạc, mặc dù u GIST trong ruột non hiếm khi gây ra tràn máu phúc mạc.

Nguồn bài viết: http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2710742/?tool=pmcentrez.

Read Full Post »

NANG MẠC TREO SAU CHẤN THƯƠNG BỤNG KÍN

Tóm tắt: Nang mạc treo là những khối u vùng bụng hiếm gặp có nguồn gốc mô học không rõ ràng và thường không có triệu chứng. Nang mạc treo sau chấn thương là hậu quả của vỡ mạch bạch huyết mạc treo. Chẩn đoán bằng X quang và chẩn đoán mô học nang mạc treo trước phẫu thuật khá khó khăn. Chúng tôi xin trình bày một trường hợp BN nam 45 tuổi có một khối u ở bụng lớn dần, kích thước khá lớn và sờ thấy được với tiền căn chấn thương bụng kín do đầu gối của đối phương đập vào trong một đá bóng cách đây 5 tháng.

1. Giới thiệu:

Nang mạc treo là khối u lành tính có nguồn gốc từ những bất thường trong sự phát triển của mạch bạch huyết hay vỡ mạch bạch huyết do chấn thường. Bệnh thường không có triệu chứng trên người lớn, trái lại đối với trẻ em thì triệu chứng biểu hiện khá rầm rộ. Ờ người lớn, bệnh thường được tình cờ phát hiện ra qua những xét nghiệm hình ảnh học hay  mở bụng thăm dò vì các lý do khác, hoặc để điều trị những biến chứng của nang. Chúng tôi xin trình bày một trường hợp BN nam 45 tuổi với khối u bụng khá lớn, có thể sờ thấy được với tiền chấn thương bụng kín gây ra do sự va chạm vào đầu gối của đối thủ trong một trò chơi bóng đá cách đây 5 tháng.

2. Ca lâm sàng:
BN nam 45 tuổi đến phòng khám ngoại trú của bệnh viện chúng tôi khai rằng ông có cơn đau khó chịu vùng thượng vị và bụng. Ngoài ra, Ông thấy có một khối khá lớn ở bụng có thể sờ thấy được và khối đó phát triển dần trong 5 tháng qua. Ông không tiền căn bệnh lý nào. Ông là một cầu thủ bóng đá và do đó ông luôn luôn được theo dõi khám sức khỏe định kỳ.

BN đã đề cập đến một vụ va chạm với một cầu thủ đối phương trong một trận bóng đá cách đây 5 tháng. Một chấn thương khá mạnh ở vùng thượng vị do đầu gối của đối phương đập vào khiến ông phải ngừng các trận đấu và bỏ tất cả các hoạt động thể thao trong một tháng. BN được cho là chấn thương cơ và được điều trị bằng kháng viêm để giảm triệu chứng đau. Cơn đau tuy chỉ kéo dài khoảng 20 ngày, nhưng nó để lại cảm giác khó chịu mơ hồ vùng bụng cùng với tình trạng đầy hơi cho BN.

Khám thực thể cho thấy một khối kích thước lớn, mật độ mềm, di động, vị trí ở thượng vị đến hạ sườn phải. Kết quả xét nghiệm và các chất đánh dấu u đều trong giới hạn bình thường. Siêu âm bụng cho thấy một khối dạng nang, nhiều vách ngăn, hình dạng không đều ở hạ sườn phải, kích thước 140 mm x 110 mm, kéo dài từ gan và tụy đến thận phải. CT Scan bụng cho thấy hình ảnh tổn thương nang nhiều thùy, đường kính 12cm, xuất phát từ đầu và mỏm móc của tụy, đẩy các mạch mạc treo và đè lên tĩnh mạch chủ dưới (Hình 1-3). CT Scan nghi ngờ đây là sự tân sinh khối nang nhầy lớn của nhu mô tụy.

Hình 1 và 2: Hình ảnh CT Scan bụng cho thấy một tổn thương lớn bắt nguồn từ vị trí giải phẫu của đầu tụy và gây ra hiệu ứng khối.

Hình 3: Khối (có thể là nang) lớn, nhiều thuỳ, bên trong bụng với những vách mỏng.

Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) và chụp cộng hưởng từ mật tụy (MRCP) đã chứng minh rằng khối u chỉ tiếp xúc với mỏm móc, tĩnh mạch chủ dưới, động mạch chủ, cực dưới thận phải và mạch mạc treo tràng trên và đưa ra những chẩn đoán phân biệt: nang mạc treo, u bạch huyết, và u trung biểu mô dạng nang (Hình 4).

Hình 4: MRI–MRCP bụng không thấy hình ảnh hẹp hay dãn ống gan chung, ống túi mật, ống mật chủ và ống tụy.

BN đã được mở bụng thám sát. Đó là một nang di động, khá lớn, màu vàng, cách gốc mạc treo 1,2à cm ở phía bên phải của tĩnh mạch mạc treo tràng trên (Hình 5). Khối u được bóc tách và cắt bỏ hoàn toàn. Chọc hút khối u thấy ra dịch giống như sữa và có độ nhớt cao. Một phần mẫu của nang được mang đi đông lạnh và làm xét nghiệm để loại trừ bệnh ác tính. Phân tích sinh hóa chất dịch bên trong cho thấy dịch có nồng độ triglycerides cao (12384 mg/dl), nồng độ cholesterol cao (325 mg/dl) và không có men amylase. BN được xuất viện sau phẫu thuật ngày thứ sáu mà không có biến chứng sau mổ. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy đây là một vách nang mạc treo có tình trạng viêm mạn tính bao gồm các đại thực bào bọt, các u hạt cholesterol và không có tế bào biểu mô.

Hình 5: Nang dưỡng chấp mạc treo nhiều thùy

3. Bàn luận:

Nang mạc treo rất hiếm gặp, thường là khối u lành tính, với tỷ lệ 1/105000-250000 những BN nhập viện phẫu thuật. Các nang này thường liên quan đến mạc treo của hồi tràng, các mạc nối, mạc treo đại tràng và khoang sau phúc mạc. Nang mạc treo được mô tả lần đầu tiên vào năm 1507 bởi nhà giải phẫu học Benevieni Florentine trong một cuộc khám nghiệm tử thi của bé trai 7 tuổi và ca phẫu thuật cắt bỏ thành công đầu tiên được thực hiện vào năm 1880 bởi Tilaux.

Số ca được mô tả trong y văn rất ít cho thấy sự thiếu kinh nghiệm trong phẫu thuật điều trị và trong việc tạo ra cách phân loại thống nhất về nguồn gốc cũng như cấu trúc mô học của các nang. Năm 1950, Bhears phân loại nang thàng 4 nhóm: có nguồn gốc từ phôi, do chấn thương, tân sinh và do nhiễm khuẩn. Trên thực tế, một phân loại dựa trên kết quả mô học và hóa mô miễn dịch phân biệt các nang thành 6 nhóm: nang có nguồn gốc từ bạch huyết (nang bạch huyết đơn giản và u bạch huyết), nang có nguồn gốc từ trung biểu mô (lành tính hoặc ác tính), nang ruột, nang có nguồn gốc từ đường niệu dục, nang dạng bì, nang giả (do nhiễm trùng hoặc chấn thương). Các nang hình thành do chấn thương hay nhiễm trùng thường có vỏ bao sợi, các đại thực bào bọt, u hạt cholesterol, không có tế bào biểu mô và mô học tương tự như như nang giả tụy. U bạch huyết và u trung biểu mô lành tính có xu hướng xâm lấn và phát triển nhanh. Mối liên quan giữa chúng với tiền căn viêm vùng chậu, phẫu thuật hoặc lạc nội mạc tử cung đã được báo cáo. U trung biểu mô ác tính dạng nang là khối u nang mạc treo có khả năng ác tính và có xu hướng tái phát sau khi cắt bỏ.

Ở người lớn, nang mạc treo thường không có triệu chứng. BN hiếm khi than phiền về việc đau bụng liên tục hoặc có khối ở bụng gây đau. Biểu hiện lâm sàng với tình trạng bụng cấp tính thường do nang bị viêm, vỡ hoặc gây tắc ruột. Mặt khác, nang mạc treo thường có triệu chứng ở trẻ em, chủ yếu là các u bạch huyết với triệu chứng tương tự như viêm ruột thừa hoặc
xoắc ruột. Khám thực thể thường không phát hiện gì hay có thể khám thấy một khối vùng bụng mềm di động. Trong trường hợp này, BN của chúng tôi có triệu chứng đau bụng tái đi tái lại và sờ thấy khối sưng cố định vùng thượng vị. BN đã liên kết sự hiện diện của khối đó với chấn thương bụng kín trước đây trong một trận đá bóng.

Chẩn đoán trước phẫu thuật nang mạc treo khá là khó. Các kết quả xét nghiệm thường trong giới hạn bình thường. Siêu âm bụng cho thấy một khối dạng nang echo kém có hoặc không có vách bên trong. CT scan cho phép xác định kích thước, đôi khi thấy được điểm xuất phát, mối liên quan của khối đó với các cơ quan lân cận và có vôi hoá hay không,  tuy nhiên không làm nổi bật mối tương quan với các mô mềm. MRI cung cấp thêm thông tin và mô tả chính xác mối liên quan giữa khối đó và các mô mềm. Hơn nữa, những bức ảnh khác nhau cho phép xác định mối liên quan với tuyến tụy, gan và buồng trứng ở phụ nữ, đây là các cơ quan thường liên quan đến quá trình hình thành nang. Trong trường hợp của chúng tôi, khối u đã được xác định bởi siêu âm và sự lan rộng của u được đánh giá qua CT Scan và MRI. CT Scan cho thấy kích thước của khối u, nhưng nó đã không xác định nguồn gốc của u. MRI-MRCP xác định cụ thể hơn kích thước của khối u, thành phần nang và vị trí của nó so với các cơ quan sau phúc mạc khác. MRI-MRCP còn giúp loại trừ khối u phát sinh từ tụy và xác định thêm cho sự nghi ngờ đó là nang mạc treo.

Phẫu thuật có cả vai trò chẩn đoán và điều trị. Nang mạc treo khổng lồ và có triệu chứng cần phải phẫu thuật ngay lập tức để ngăn chặn bệnh ác tính hoặc biến chứng như vỡ, viêm hoặc tắc nghẽn. Bóc tách các nang bạch huyết đơn giản và nang trung biểu mô thường dễ dàng và an toàn. Ngược lại, u bạch huyết, các u trung biểu mô dạng nang lành tính và ác tính có thể dính rất chặt vào các cơ quan lân cận hoặc các mạch máu lớn.Thực tế này làm cho việc cắt bỏ tận gốc khá khó khăn. Việc cắt bỏ tụy, ruột và lách thường cần thiết để loại bỏ hoàn toàn khối u. Cắt bỏ ruột là chỉ cần thiết trong 1/3 các trường hợp trong khi điều này là cần thiết trong khoảng 50-60% trường hợp có nang mạc treo ở trẻ em. Cắt bỏ nang mạc treo qua nội soi cũng đã được mô tả trong nhiều trường hợp. U trung biểu mô ác tính, u trung biểu mô dạng nang lành tính và u bạch huyết cũng có thể tái phát.

Trong trường hợp này, các thông tin từ BN liên quan đến chấn thương bụng kín khiến chúng tôi xem xét việc hình thành khối vùng bụng là do chấn thường. Tổn thương mạc treo có thể làm vỡ một mạch bạch huyết và dưỡng chấp sẽ bị rò rỉ dần dần. Xét nghiệm hình ảnh rất hữu ích mặc dù chẩn đoán xác định chỉ có được sau khi cắt bỏ u và kiểm tra mô học.

4. Kết luận:

Nang mạc treo là một khối u hiếm gặp ở vùng bụng và thường không có triệu chứng. Việc chẩn đoán trước mổ khá khó khăn và kết quả X quang không phải lúc nào cũng đặc hiệu. Phẫu thuật có cả hai vai trò chẩn đoán và điều trị. Tiền sử chấn thương bụng kín nên luôn luôn được khai thác khi điều trị những tổn thương dạng nang vùng bụng.

Tài liệu tham khảo:

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3199619/?tool=pubmed

Read Full Post »

Trường hợp báo cáo
U nang mạc treo khổng lồ

GIỚI THIỆU
U nang mạc treo rất hiếm gặp.Chúng có thể tồn tại hoá trên tất cả các mạc treo ruột, từ tá tràng đến trực tràng, tuy nhiên, chúng chủ yếu tìm thấy trong mạc treo đại tràng hồi tràng và đại tràng phải và thường chứa các chất lỏng chylous
Những u này có thể được đa dạng tế bào, phát triển với tỷ lệ rất lớn và được coi là có thể gây tắc nghẽn, thay đổi, hệ tế bào bạch huyết ngoài tử cung.
Có một số phân loại của việc hình thành khối u này, trong số
dựa trên các tính năng thương giải phẫu bệnh đã được
được sử dụng phổ biến nhất. Báo cáo lâm sàng của bệnh nhân
phụ thuộc vào kích thước khối u, vị trí và các biến chứng liên quan đến chẳng hạn như tắc nghẽn một phần hoặc hoàn toàn ruột, thủng ruột,viêm phúc mạc, xoắn và thoái hóa mạc treo ác tính.

Siêu âm và CT là các phương pháp có giá trị nhất để đánh giá nang mạc treo. Phẫu thuật cắt bỏ là sự lựa chọn.

Trường hợp báo cáo
Nữ 55 tuổi với tiền sử bệnh cao huyết áp 5 năm qua trước khi khởi bệnh, bà đến phòng khám với một lịch sử 2 tháng bị đau quặn bụng ngày càng tăng và sau đó là chướng bụng. Bà không có nôn mửa hoặc thay đổi thói quen đi. Có một tiền căn gần đây cảm giác no và giảm cân. Ngoài ra chưa có phát hiện bất thường khác. Khám bụng cho thấy bụng chướng căng .
Tất cả các cận lâm sàng phòng thí nghiệm nói chung là bình thường. Siêu âm cho thấy một khối lượng rất lớn đa nang vùng bụng chậu kèm dày vách. Hình ảnh chụp cắt lớp cho thấy một khu vực được xác định rõ lớn nang lớn rộng có phân chia thùy. Vị trí là từ vùng thượng vị xuống khu vực vùng chậu kéo dài xuống ruột và có đè nén tuyến tụy. Chẩn đoán phân biệt của chúng tôi u nang buồng trứng. Thăm dò cho thấy một khối lượng rất lớn nang đa thùy có liên quan đến các mạc treo ruột non

(Hình 1). cấu trúc nang đã được chẩn đoán nhầm với 1 trường hợp u nang buồng trứng.

Một trường hợp khác :
Một người đàn ông khỏe mạnh 39 tuổi đến bệnh viện vì chu vi vòng bụng ngày càng tăng, bụng ngày càng căng to do thường ăn chất béo. Ông hay khó chịu ở bụng chỉ vào cuối ngày. Kiểm tra, bụng phình to ể,không điểm đau khu trú, gõ đục vùng bụng. Một hộp chất lỏng có thể được gợi ra qua bụng của bệnh nhân trên hình chụp cắt lớp vi tính (CT scan) cho thấy một khối u lớn trong ổ bụng, với nang chia các vách mỏng (hình 1). Khối u đã di dời ruột của ông toàn bộ vùng bụng và mở rộng ở phía dưới vào khung xương chậu của ông. Khi phẫu thuật, kết quả đã được tìm thấy khối đa nang kích thước khoảng # 23 x 15 x 3 cm và chứa khoảng năm lít huyết thanh. Trên kính hiển vi, các bức tường xơ có thưa thớt, tế bào lympho phản ứng phân tán và được lót bởi cấu trúc biểu mô suy yếu. Các tế bào biểu mô miễn dịch với cytokeratins trọng lượng phân tử không đồng đều (hình 2).

hình ảnh CT bụng cho thấy nang được phân chia 2 thùy rõ ràng .

hình ảnh giải phẫu bệnh cho thấy các tế bào cu-bic lót thành sắp xếp hàng và bất hoạt với yếu tố VIII.

Khả năng tồn tại ruột được bảo đảm. Khối lượng đã được tìm thấy là một u mạc treo có chứa 15 lít chất lỏng chylous. Tất cả thùy được mở ra, để ráo nước và cắt bỏ một phần , được thực hiện thành công. Bệnh nhân thông qua một giai đoạn hậu phẫu không có biến cố .

Thảo luận
U nang mạc treo là một trong những khối u hiếm nhất trong ổ bụng. Kể từ khi báo cáo đầu tiên bởi Benevieni, một người Ý bác sỹ giải phẫu học, người đầu tiên phát hiện một u mạc treo mà đã được chẩn đoán là u nang trước đó, bằng việc thực hiện khám nghiệm tử thi trên 8 năm .
Chỉ có 820 trường hợp đã được báo cáo. Có phân loại một số u nang mạc treo,
dựa trên các tính năng mô học đã được thống nhất thường được sử dụng:
1) u nang bạch huyết
2) u nang trung bì
3) u nang ruột
4) nang của niệu sinh dục
5) các nang dermoid
và 6) nang giả.
Trong các u nang này, u bạch huyết và u nguồn gốc từ mesothelial thường gặp nhất
Một vài cơ chế đã được đề xuất để ngăn ngừa sự phát triển của u nang mạc treo. Như : sự thất bại bạch huyết bẩm sinh, thoái hóa của hệ bạch huyết do chấn thương bụng, trước phẫu thuật vùng chậu, lạc nội mạc tử cung, bệnh viêm vùng chậu và ung thư.
U nang mạc treo có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng có cao nhất
tỷ lệ mắc trong thập kỷ thứ tư của cuộc sống, khoảng 75% trong số họ được chẩn đoán sau khi 10 tuổi
bệnh nhân biểu hiện 3 cấp bậc
(A) không có triệu chứng, những bệnh nhân này thường tăng khối lượng, không đau bụng chậm phát triển. Lên đến 40% của mạc treo nang được tìm thấy tình cờ trong bụng khi phẫu thuật vì các lý do khác. Mất trọng lượng được ghi nhận trong một số
bệnh nhân, như trong trường hợp của chúng tôi, nhưng nguyên nhân là không rõ
(B) mãn tính đau bụng, u nang cũng có thể sản xuất các triệu chứng áp lực
gây đau lưng mãn tính liên tục , với buồn nôn, tiêu chảy, ói mửa hay táo bón
(C) biểu hiện cấp tính vùng bụng dưới với hình thức tắc nghẽn (xoắn, bên ngoài nén )
,vỡ nang, xuất huyết, hoặc nhiễm trùng.
Những biến chứng này xảy ra trong khoảng 1/3
bệnh nhân người lớn và hai phần ba số bệnh nhân trẻ em.


nang mạc treo ở vùng chậu bên trong mạc treo của đại tràng xuống và đại tràng sigma.

Nguồn :
giant-mesenteric-cyst-a-case-report-and-review-of-the-literature.html
url?sa=t&rct=j&q=mesenteric%20cysts%20case%20report&source=web&cd=6&sqi=2&ved=0CGAQFjAF&url=http%3A%2F%2Fwww.arabjg.eg.net%2Fframr%2FArabjg2%2Fpdf%2Fweb%2520March%25202008%2F4-%2520AJOG09104%2520Case%2520Report.pdf&ei=8Y1TT7vNB6yciAejj-XOCw&usg=AFQjCNFV9r5CiQMMtedyrto0lJnlxdAsYA&sig2=pMLhntGmdjgYW5QuEAlIMQ
viewNew.asp?ID=4&IDArticolo=18

Read Full Post »

Older Posts »