Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Phụ khoa’ Category

1. U nang buồng trứng xuất huyết là gì?

Trong số các loại nang buồng trứng, nang buồng trứng xuất huyết là phổ biến nhất. Nó có thể gây ra rất nhiều đau đớn và thậm chí có thể vỡ trong một số trường hợp. Một u nang xuất huyết phát triển khi một trong các mạch máu nhỏ nằm trên thành của một khối u mới hình thành bị vỡ vì một số lý do. Máu từ mạch máu tràn ra nang và làm nang bắt đầu sưng lên với một tốc độ vừa phải. Nang buồng trứng là một túi thành mỏng bên trong chứa đầy dịch. Khi u nang buồng trứng chảy máu từ túi chứa đầy dịch lỏng gây nên nang buồng trứng xuất huyết.

Tuy u nang buồng trứng xuất huyết có thể gây nên thương tổn lớn nhưng không phải lúc nào cũng cần được phẫu thuật, Trong nhiều trường hợp, u nang sẽ phát triển trong một khoảng thời gian, sau đó bắt đầu co lại và cuối cùng tự biến mất. Bác sĩ của bạn cũng có thể kê toa thuốc để giúp bạn giảm bớt các triệu chứng cho đến khi các khối u co lại. Thông thường, u nang của loại này là tự giới hạn, chúng không có xu hướng lây lan và ít có khả năng phát triển so với các loại u nang khác. Tuy nhiên, theo dõi u nang buồng trứng xuất huyết là rất cần thiết để đảm bảo rằng nó tự giới hạn được và không gây nguy hiểm cho buồng trứng.

2. Các thông tin về nang buồng trứng xuất huyết

Photobucket
Photobucket
Hình ảnh trên đây là ví dụ về nang buồng trứng xuất huyết. Trong môt hình ảnh siêu âm, u nang hình ảnh buồng trứng được mô tả giống như bong bóng. Chúng có thể gặp ở phụ nữ ở bất cứ độ tuổi nào. Phần lớn u nang buồng trứng được phân loại theo chức năng, còn gọi là u nang buồng trứng sinh lý. Ở bệnh nhân có nang buồng trứng xuất huyết, triệu chứng đau bụng một bên có thể có.

a. Các triệu chứng của u nang buồng trứng xuất huyết là gì?

Thông thường, u nang buồng trứng không có bất kỳ triệu chứng nào và được tìm thấy khi bệnh nhân kiểm tra sức khỏe tổng quát hoặc bệnh nhân phát hiện tình cờ khi đi siêu âm. Tuy nhiên, một số triệu chứng sau đây có thể gặp:

  • Đau bụng vùng hạ vị hoặc vùng chậu, có thể bắt đầu và hết đau hoặc có thể trở nên nghiêm trọng, bất ngờ và dữ dội.
  • Chu kỳ kinh nguyệt rối loạn
  • Cảm thấy áp lực tăng ở vùng bụng dưới hoặc vùng chậu hoặc cả bụng.
  • Đau vùng chậu thời gian dài trong suốt thời kỳ kinh nguyệt, cũng có thể đau ở vùng lưng thấp.
  • Vùng chậu đau sau khi tập thể dục gắng sức hoặc quan hệ tình dục
  • Đau hoặc có bất thường ở đường tiết niệu hoặc nhu động ruột.
  • Buồn nôn và ói mửa
  • Đau âm đạo hoặc rỉ máu từ âm đạo
  • Vô sinh

Nếu bệnh nhân có bất kỳ triệu chứng nào như trên đây, bệnh nhân nên đi kiểm tra và được chẩn đoán xác định.

b. Xử lý u nang buồng trứng xuất huyết

Một u nang buồng trứng xuất huyết khác với các loại u nang khác vì nó có thể làm cho bệnh nhân khó chịu và đau bụng dữ dội. Bệnh nhân thường đau bụng một bên nhưng có xu hướng lây lan nếu không được điều trị thích hợp.

Nếu mức độ khó chịu không quá nghiêm trọng,  thuốc giảm đau đơn giản có thể giảm đau tạm thời, nhưng quan trọng là phải chữa trị tận gốc nguyên nhân của bệnh. Lựa chọn thay thế khác như chườm nước đá cũng có thể làm giảm đau. Để tìm ra một cách chữa trị u nang buồng trứng xuất huyết, bạn nên thử dùng các loại thảo dược, vitamin, và theo dõi trong một khoảng thời gian.

c. Nguyên nhân gây ra u nang buồng trứng

Sau đây là một số nguy cơ gây nên u nang buồng trứng:

  • Có tiền căn từng bị u nang buồng trứng
  • Rối loạn chu kỳ kinh nguyệt
  • Tăng tích tụ chất béo ở phần trên cơ thể.
  • Có kinh nguyệt  sớm (từ 11 tuổi hoặc trẻ hơn)
  • Vô sinh
  • Suy giáp hoặc mất cân bằng hormone.
  • Do dung thuốc Tamoxifen điều trị ung thư vú

Sử dụng thuốc tránh thai làm giảm nguy cơ phát triển u nang buồng trứng bởi vì thuốc ngăn cản buồng trứng tạo thành trứng trong suốt thời gian rụng trứng.

d. Vỡ nang buồng trứng xuất huyết
Photobucket

Trong trường hợp một u nang buồng trứng không được phát hiện sớm, nó có thể vỡ. Một u nang buồng trứng vỡ không chỉ gây đau dữ dội, nó còn gây nên các vấn dề nghiêm trọng khác. Nó có thể gây nên các biến chứng đe dọa tính mạng, bao gồm các bệnh như vỡ u nang buồng trứng xuất huyết và nhiễm trùng. Như vậy, nếu bạn nghi ngờ bạn có u nang buồng trứng, việc chẩn đoán càng sớm càng tốt để tránh khỏi những tình huống cấp cứu khẩn cấp là rất quan trọng.

Ngày nay, các trang web hữu ích khác nhau được tạo ra cung cấp cho phụ nữvthông tin liên quan đến các triệu chứng ác tính và vỡ u nang buồng trứng. Dưới đây là những triệu chứng phổ biến nhất của u nang buồng trứng vỡ xuất huyết:

  • Đau dữ dội xung quanh vùng bụng
  • Đau khắp bụng
  • Buồn nôn và ói mửa
  • Đau nhiều khi chạm vào vú.

e. Chẩn đoán u nang buồng trứng

Bác sĩ sẽ cho bệnh nhân làm các xét nghiệm dưới đây để chẩn đoán u nang buồng trứng ở bệnh nhân và để phân loại u nang buồng trứng.

  • Siêu âm qua ngả âm đạo:phương pháp chẩn đoán hình ảnh này là phương pháp siêu âm đặc biệt thám sát vùng chậu và là phương pháp tốt nhất để chẩn đoán u nang buồng trứng. Một u nang buồng trứng có thể được chẩn đoán dựa vào hình ảnh của nó trên siêu âm.

+ Siêu âm qua ngả âm đạo là phương pháp không gây đau tương tự như phương pháp kiểm tra vùng chậu. Một dụng cụ được đưa vào âm đạo, và bác sĩ thực hiện hướng dụng cụ đến tử cung và buồng trứng.

+ Hình thức siêu âm này cho ta hình ảnh tốt hơn siêu âm qua ngả bụng vì dụng cụ siêu âm có thể tiếp cận buồng trứng gần hơn.

+ Dùng siêu âm qua ngả âm đạo, các cấu trúc bên trong u nang có thể được xác định  ví dụ như chỉ có dịch, một hỗn hợp gồm dịch xen kẽ chất rắn bên trong, hoặc chỉ có chất rắn đặc không có dịch.

Photobucket

  • Phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác: CT scan chẩn đoán tình trạng lan rộng của u nang. MRI có thể cho ta thấy rõ hơn kết quả của siêu âm.
  •  Phẫu thuật nội soi ổ bụng: Trong phương pháp này, phẫu thuật viên sẽ làm một thám sát nhỏ bằng đèn soi ổ bụng. Phẫu thuật viên sẽ xác định vị trí u nang và có thể loại bỏ u nang hoặc lấy mẫu cần sinh thiết ra.
    Photobucket
  • Xét nghiêm huyết thanh CA-125: :Loại xét nghiệm máu này tìm kháng nguyên CA-125 có liên quan đến ung thư buồng trứng ( CA viết tắt cho kháng nguyên). Xét nghiệm này dùng trong đánh giá ung thư biểu mô buồng trứng và giúp chúng ta xác định ung thư là lành tính hay ác tính. Tuy nhiên thỉnh thoảng các thể lành tính như u xơ tử cung hoặc lạc nội mạc tử cung cũng cho kết quả dương tính với CA-125. Vì thế xét nghiệm không hoàn toàn chẩn đoán xác định ung thư buồng trứng..
  • Nồng độ hormones: Xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ LH, FSH, estradiol, và testosterone có thể giúp ta phát hiện vấn đề liên quan đến nồng độ các hormone này.
  • Thử thai: Điều tri u nang buồng trứng ở một bệnh nhân có thai và không có thai là khác nhau hoàn toàn. Một ca thai ngoài tử cung có thể bị bỏ sót vì triệu chứng khá giống với u nang buồng trứng.
  • Chọc dò túi cùng Douglas: Phương pháp này để lấy mẫu dịch từ vùng chậu bằng một cây kim đâm xuyên qua thành âm đạo phía sau cổ tử cung. his test involves taking a fluid sample from the pelvis with a needle inserted through the vaginal wall behind the uterine cervix.

Nguồn:

f. Phẫu thuật u nang buồng trứng

  • Phẫu thuật nội soi ổ bụng: Trong phương pháp này, phẫu thuật viên sẽ rạch da để thám sát thông qua đèn soi ổ bụng. Phẫu thuật viên sẽ xác định vị trí u nang và có thể loại bỏ u nang hoặc lấy mẫu cần sinh thiết ra.
  • Mổ hở:  Đây là phẫu thuật xâm lấn bằng cách mổ bụng để loại bỏ u nang.
  • Phẫu thuật u nang buồng trứng xoắn: Một u nang buồng trứng có thể  xoắn và gây ra đau bụng dữ dội cũng như nôn ói, buồn nôn. Đây là tình trạng cấp cứu, phẫu thuật là rất cần thiết để giải quyết vấn đề.

Nguồn:

http://symptomsofovariancysts.net/hemorrhagic-ovarian-cyst/

http://www.emedicinehealth.com/ovarian_cysts/page7_em.htm

http://www.emedicinehealth.com/ovarian_cysts/page5_em.htm

Read Full Post »

1.Đặt vấn đề:

Thai trong ổ bụng là một trường hợp rất hiếm gặp của thai lạc chỗ, chiếm khoảng 1% tất cả các trường hợp thai lạc chỗ và xảy ra khoảng 1/10.000 trường hợp sinh. Đây là một bệnh lý cấp cứu trong sản khoa với tỉ lệ tử vong mẹ và chu sinh lần  lượt  là 0,5-18% và 40-95%.

Tỉ lệ thai trong ổ bụng thay đổi tùy theo vị trí địa lý, mức độ quản lý và chăm sóc thai nghén, cũng như tình trạng kinh tế xã hội. Người ta cho rằng thai ổ bụng thường gặp ở các nước đang phát triển, có thể là do tân suât viêm nhiễm hố chậu ở mức cao. Tỉ lệ tử vong của thai ở vị trí trong ổ bụng cao gấp 7,7 lần so với thai lạc chỗ ở vòi trứng và gấp 90 lần so với thai trong tử cung.

Bệnh suất của mẹ bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, nhiễm độc máu, thiếu máu, đông máu rải rác trong lòng mạch, tắc mạch phổi, hoặc do sự hình thành đường dò giữa túi ối và ruột do xương thai nhi dâm thủng.

 

 

Thai ổ bụng có 10-25% cơ hội sống sót. Tuy nhiên, 20-40% trẻ sinh sống sẽ bị dị dạng và chỉ có 50% sẽ sống sót sau 1 tuần. Hơn nữa, dị dạng thai như vẹo cổ, bất cân xứng khuôn mặt, biến dạng chi, đầu dẹt, và dị dạng lồng ngực, có the xảy ra ở những trường hợp thiểu ối nặng trong môi trường ở ngoài tử cung.Thai lạc chỗ thường do nguyên phát hoặc do thứ phát tùy theo vị  trí nhau bám và tuổi thai.

 

 

Thai ổ bụng nguyên phát: do nguyên bào nuôi bám tại ổ bụng ngay từ đầu, là trường hợp hiếm gặp của thai ổ bụng. Tiêu chuẩn chẩn đoán thai ổ bụng nguyên phát dược Studdiford đưa ra lần đầu tiên vào năm 1942 gồm  (1) cả hai buồng trứng và vòi trứng bình thường, không có bằng chứng của tổn thương gần đây hoặc trước đó; (2) chẩn doán cần xác định được tình trạng vòi trứng và buồng trứng bình thường, không có đường dò tử cung và nhau từ một tử cung đã bị vỡ;  và (3) vị trí bám của túi thai trên bề mặt phúc mạc mà thôi. Thai ổ bụng nguyên phát thường sảy sớm trước 12 tuần.

Thai ổ bụng thứ phát: xảy ra khi nhau của túi thai bám ở vòi trứng, sừng tử cung hoặc thai trong tử cung đi khỏi vị trí bám ban đầu của nó và dính vào nội tạng khác. Bánh nhau vẫn còn sống bởi vì một phần máu nuôi vẫn còn được duy trì. Tiến trình có thể được cho là sảy thai ở vòi trứng, với sự phát trien bánh nhau ở ngoài vòi trứng. Thai ổ bụng thứ phát thường diễn tiến sau 12 tuần thai.

1.    

2.  2. Các dấu hiệu lâm sàng:

Thai ổ bụng nguyên phát: triệu chứng xuất hiện trước khi thai 12 tuần và tương tự như trường hợp thai lạc chỗ ở vòi trứng, ngoại trừ khi khám khung chậu không thấy dấu hiệu bất thường trên vòi trứng. Đau bụng, vô kinh, ra máu âm đạo, và test thử thai dương tính là những triệu chứng gợi ý chẩn đoán.

Thai ổ bụng thứ phát: tương phản với sự hiện diện rõ ràng của một túi thai trong ổ bụng, tiền sử và các dấu hiệu lâm sàng trong thai ổ bụng thứ phát thường dễ bị nhầm lẫn:

  _Đau bụng tái diễn, nôn trong ba tháng giữa và ba tháng cuối, đau do thai cử động là những triệu chứng thường gặp.

  _Thường thì các phần của thai nhi có thể dễ dàng sờ thấy trên thành bụng và di động. 

  _Hiếm gặp hơn, là tình huống thân tử cung lớn (10-12 tuân) ở  hố chậu. Cổ tử cung thường giãn theo tuổi thai nhưng độ xóa mở cổ tử cung là không xảy ra.

  _Chuyển dạ “giả’ có the xảy ra trong ba tháng giữa, và tử cung “giả” có the xuất hiện cơn co do kích thích của oxytocin, gây nhầm lẫn do chủ  quan khinh suất của thầy thuốc.

  _Thiếu máu thường nhận biết muộn trong ba tháng đầu hoặc ba tháng giữa của thai kỳ, do sự chảy máu trong o bụng vào thời điểm bong một phần bánh nhau.

Nên nghi ngờ thai ổ bụng trong những trường hợp có tình trạng dọa sảy thai kéo dài hay thai chết lưu không rõ nguyên nhân. Vị trí thai nhi cố định bất thường trong bụng mẹ và không thay đổi theo thời gian cũng gợi ý chẩn đoán rất cao.

 

 

1.     3. Điều trị: 

Một khi chẩn đoán thai ổ bụng, phẫu thuật là một chỉ định ngay tức thì, bởi vì nguy cơ cho mẹ và do việc không thể phát triển một cách bình thường của thai nhi. Mối nguy cơ trước mắt của việc bong nhau, và chảy máu trầm trọng sẽ không cho phép trì hoãn.

 

 

 Nếu thai đã chêt, chỉ định mổ chủ động không nên trì hoãn vì tình trạng mất máu, đông máu rải rác trong lòng mạch, nhiễm độc, hoặc do hình thành abcess có thể xảy ra.

 

 

Tuy nhiên, nêu thai kỳ tiến triển trên 20-24 tuần, người mẹ và thai nhi đều khỏe mạnh, có thể theo dõi thai nghén tại bệnh viện với điều kiện có đủ  máu trong tay cho đến khi thai nhi có thể sống được.

 

1.   4. Tiên lượng:

Tỉ lệ tử vong mẹ cao hơn 20%  ở những thai ổ bụng  đang tiến triển là do khó chẩn đoán chính xác trước mổ, việc chuẩn bị  máu cũng như các phương tiện hồi sức chưa đầy đủ. Vấn đề dính và chảy máu khiến cho phẫu thuật trở nên phức tạp và khó khăn, tổn thương niệu quản và ruột cũng là những tai biến thường gặp.

 

 

Nguồn tham khảo:

1.    1.Martin JN, Sessums JK, Martin RW. Abdominal pregnancy: current concepts of

management. Obstet &Gynecol 1988; 71(4): 549- 557p

2.   Thefetus.net. Cotter A, Izquierdo L, Heredia F. Abdominal pregnancy. Available from: http:// http://www.thefetus.net/page.php?id=1032.

3.  3. William A. Alto. Abdominal pregnancy. American Family physician. Feb 1990

 

Read Full Post »

TÓM TẮT
Một phụ nữ 66 tuổi được cấp cứu với tình trạng chảy máu âm đạo và một khối nhô ra từ âm đạo. Kiểm tra cho thấy âm đạo bị sa với khoảng 20-30 cm ruột. Bệnh nhân đã được cắt bỏ tử cung 30 năm trước đây do rong kinh kéo dài (menorrhagia). Trong vòng 10 năm gần đây, bệnh nhân đã bị sa các tạng trong ổ bụng nhiều lần, bao gồm sa bàng quang (cystocele) và sa trực tràng (rectocele). Sa ruột qua vòm âm đạo (vaginal vault evisceration) là một biến chứng hiếm gặp của cắt bỏ tử cung và đây là một trường hợp cấp cứu phụ khoa. Tình trạng của bệnh nhân đã được các bác sĩ nắm bắt nhanh chóng và họ đã quyết định điều trị ngoại khoa. Bệnh nhân được điều trị qua hai cuộc phẫu thuật. Ban đầu, ruột non được đưa lại vào ổ bụng thông qua lỗ hổng của thành âm đạo và lỗ hổng này cũng được vá lại. Sau một thời gian phù hợp để bệnh nhân được hồi phục, phẫu thuật cố định vào xương cùng (sacrocolpopexy) được thực hiện để xử trí đoạn ruột bị sa.

GIỚI THIỆU
Báo cáo đầu tiên của sa ruột qua âm đạo được mô tả bởi Hyernaux vào năm 1864: “là sự phá vỡ thành trước ở đoạn gần của âm đạo, dẫn đến sa các tạng trong ổ bụng”. Kể từ đó, có hơn 120 báo cáo trong y văn, mặc dù trong thực tế một số trường hợp có thể không được báo cáo. Sa ruột qua âm đạo là một biến chứng hiếm gặp sau phẫu thuật cắt bỏ tử cung (không phân biệt phương pháp phẫu thuật) ở phụ nữ có tuổi, nó dẫn đến nguy cơ cao về bệnh tật, tử vong và đòi hỏi phải nhanh chóng can thiệp bằng phẫu thuật. Sa ruột qua âm đạo có những nguyên nhân khác nhau tùy thuộc vào nhóm tuổi: tiền mãn kinh và mãn kinh. Phụ nữ mãn kinh, sa ruột qua âm đạo có xu hướng xảy ra sau khi cắt bỏ tử cung. Trong khi đó ở phụ nữ tiền mãn kinh, đã có báo cáo của sa ruột qua âm đạo sau khi siêu âm qua ngã âm đạo. Việc xử trí sa ruột qua âm đạo liên quan đến phẫu thuật ngăn chặn và phẫu thuật cấp cứu. Có nhiều đường đường phẫu thuật khác nhau: bụng, âm đạo hoặc kết hợp nội soi ổ bụng; việc sử dụng đường mổ phụ thuộc vào tính khả thi của đường ruột và phụ thuộc vào bất kỳ sự có mặt của các yếu tố lạ trong khoang bụng.

BÁO CÁO TRƯỜNG HỢP
Một phụ nữ 66 tuổi cấp cứu với chảy máu âm đạo, đau bụng và khối nhô ra từ âm đạo. Bệnh nhân có tiền sử trong thập kỷ qua với sa bàng quang và sa trực tràng. Ba thập kỷ trước đây bệnh nhân đã được cắt bỏ tử cung để làm giảm các triệu chứng của rong kinh kéo dài. Ngoài viêm khớp ra, bệnh nhân không còn bị bất kỳ bệnh nào khác và hiện có sức khỏe tốt.

Qua khám bệnh ghi nhận tổng trạng bệnh nhân có vẻ tốt, nhưng bụng phình to và mềm ở  vùng trên mu, vùng hố chậu trái và phải; không có âm ruột. Khám bộ phận sinh dục thấy sa âm đạo với 20-30 cm của ruột non thông qua khiếm khuyết của vòm âm đạo. Bệnh nhân ngay lập tức được chuyển đến ê-kíp phụ khoa.

Hình 1. Sa ruột qua âm đạo thông qua khiếm khuyết vòm âm đạo.

Trước khi cấp cứu nhằm xử trí khối sa ruột non, bệnh nhân được cho dùng kháng sinh. Mục đích của phẫu thuật là để rút ngắn đoạn ruột bị sa và khâu lại lỗ hổng thành âm đạo. Theo quan sát từ bác sĩ phụ khoa, ruột non xuất hiện hơi sẫm. Ruột non được thay thế qua lỗ hổng thành âm đạo, sinh thiết thành âm đạo cũng được thực hiện sau đó. Lỗ hổng  thành âm đạo đã được đóng lại bằng vinyl. Âm đạo của bệnh nhân đã được đặt catheter và đóng kín. Bệnh nhân phục hồi tốt trong vài ngày đầu sau phẫu thuật, mặc dù bà đã có một số vấn đề về ống thông tại chỗ, đó là do sự sa âm đạo vẫn chưa được sửa chữa. Catheter đã được rút vào ngày thứ 5 sau mổ, nhưng bệnh nhân đã bị nhiễm trùng đường tiết niệu trong khi đặt catheter và đã được truyền augmentin qua đường tĩnh mạch. Bệnh nhân được xuất viện vào ngày thứ 8 và trở lại 6-8 tuần sau đó để làm phẫu thuật cố định vào xương cùng để khắc phục sa thành âm đạo.


Hình 2. Ảnh sau phẫu thuật

Ban đầu nội soi thăm dò ổ bụng được thực hiện, khung xương chậu được nhìn thấy bình thường và bác sĩ đã quyết định thực hiện phẫu thuật cố định vào xương cùng. Một vết rạch Pfannenstial đã được thực hiện, chỗ dính của ruột non với thành bên của hố chậu phải được tách rời. Phúc mạc giữa xương cùng và thành âm đạo sau đã được bộc lộ, sau đó lưới prolene được đính vào thành âm đạo với chỉ prolene và vinyl. Lưới cũng đã được khâu vào xương cùng, lưới toàn bộ được bao phủ bởi phúc mạc, vỏ bọc trực tràng được khâu bằng cách sử dụng vinyl và da được đóng lại. Soi bàng quang sau đó được sử dụng để xác minh các chức năng của niệu quản, kết quả cho thấy cả hai đều làm việc tốt. Bệnh nhân phục hồi nhanh chóng, không có biến chứng hậu phẫu và được xuất viện vào ngày thứ 2 sau mổ.

THẢO LUẬN
Sa ruột qua âm đạo là một biến chứng hiếm gặp của cắt tử cung mà luôn được xử trí bằng phẫu thuật khẩn cấp. Bệnh nhân này đã được cắt tử cung nhiều năm trước đây và nó không hẳn là nguyên nhân trực tiếp của tình trạng này, nhưng cắt bỏ tử cung có thể đưa đến các tình trạng khác, ví dụ như làm thay đổi trục âm đạo, âm đạo có thể nằm ở một vị trí thấp hơn. Vị trí mới này kết hợp với các yếu tố như sa bàng quang và sa trực tràng có thể làm thành âm đạo bị tổn thương. Đây là những yếu tố nguy cơ có thể đã góp phần làm sa ruột qua âm đạo ở người phụ nữ này, cùng với độ tuổi càng làm tăng khả năng mắc bệnh của bà.

Sa ruột qua âm đạo nếu không được xử trí nhanh chóng có thể dẫn đến viêm phúc mạc và thiếu máu cục bộ ở ruột. Tuy nhiên, điều quan trọng là các bác sĩ cấp cứu phải cảnh giác được các biến chứng và có hướng dự phòng thích hợp. Khi bệnh nhân được tiếp nhận bởi bộ phận cấp cứu và vấn đề đã được xác định, các bác sĩ cấp cứu không được trì hoãn việc dự trù các kháng sinh phổ rộng để chuẩn bị cho bệnh nhân đến bàn mổ và bảo đảm đoạn ruột sa được bao phủ trong băng gạc thấm nước muối, vì điều này làm tăng khả năng tồn tại của ruột.

Trường hợp này chỉ rõ sự cần thiết trong việc xác định ruột sa qua âm đạo một cách nhanh chóng và sự phòng bị phù hợp để tránh bệnh tật và tử vong cho bệnh nhân.

Nguồn:
http://jscr.co.uk/2012/05/gynaecological-surgery/a-rare-case-of-vaginal-vault-evisceration-and-its-management/

Read Full Post »

Tài liệu tham khảo:http://nthscc.com.vn/showthread.php?t=8670&pagenumber=

http://rarediseases.about.com/od/rarediseasesf/a/031005.htm

1.Định nghĩa:

Là một nhiễm trùng của các nang quanh gan đi kèm với nhiễm trùng khung chậu. Hội chứng Fitz-Hugh-Curtis được gây nên bởi viêm vùng chậu (pelvic inflammatory diesease), lan lên theo rãnh cạnh đại tràng phải (right paracolic gutter), gây nên viêm bao nang của gan (viêm quanh gan : perihepatitis), và có thể dẫn đến dính giữa gan và thành bụng.Xảy ra ở 15-30% phụ nữ mắc bệnh viêm vùng chậu (PID), nhưng cũng có thể xảy ra ở phụ nữ mà không có PID.

2.Nguyên nhân:

a.Tiền sử hoặc viêm vùng tiểu khung do Neisseria gonorrhoeae .

Được mô tả lần đầu năm 1920 bởi Carlos Stajano. Năm 1930,Arthor Curtis cũng mô tả tình trạng tương tự  ở những bệnh nhân tiền sử viêm vòi trứng. Năm 1934,Thomas Fitz-Hugh khi tham gia phẫu thuật đã tìm thấy hiện tượng viêm phúc mạc mặt trước gan và bề mặt phúc mạc lân cận và thấy lậu cầu từ dịch viêm phúc mạc dẫn lưu.

b.Chlamydia

1978, Muller-Schoop và cộng sự lần đầu tiên tìm thấy bằng chứng về miễn dịch ở bệnh nhân nhiễm Chlamydia trachomatis ở 9/11 bệnh nhân được chẩn đoán viêm phúc mạc trên nội soi ổ bụng, trong đó có 6 bệnh nhân viêm quanh gan.

3.Bệnh sinh: chưa rõ,có thể do:

-Nhiễm trùng gan trực tiếp

-Vi khuẩn theo dòng máu đến bao gan

-Theo đường bạch huyết.

4.Triệu chứng:

Bệnh nhân có biểu hiện rối loạn sinh dục tiết niệu như:

Ra máu âm đạo, ra khí hư, tiểu khó hoặc đau bụng mơ hồ vùng hạ vị xuất hiện trước bắt đầu đau bụng hạ sườn phải vài tuần.

Khởi phát đau thường rầm rộ với đau chói ở hạ sườn phải thường lan lên vai và đến mặt trong cánh tay. Đau thường tăng lên khi hít vào, khi ho, khi cười, hoặc khi thay đổi tư thế thân người. Đau có thể xuất hiện bên trái hoặc cả hai bên mạng sườn hoặc thay đổi luân phiên lúc bên này lúc bên kia. Đôi khi đau lên cung sườn hai bên vùng nối hoặc lan ra sau. Nấc, nôn, rét run, sốt, vã mồ hôi cũng có thể gặp.

5.Chẩn đoán:

a. Lâm sàng:

Đau hạ sườn phải dữ dội, tăng khi hít vào, lan lên vai phải kèm theo nôn, nấc, sốt nhẹ, rét run, đau đầu, mệt mỏi…, kèm theo thăm khám tiểu khung có đau, ra khí hư nhiều.

b.Cận lâm sàng:

X.quang ngực: loại trừ viêm phổi, x.quang bụng không chuẩn bị ít có giá trị có thể loại trừ một số cấp cứu bụng khác như sỏi hệ tiết niệu…

Siêu âm bụng:chẩn đoán tốt viêm ứ nước vòi trứng nhất là siêu âm qua đường âm đạ, ngoài ra siêu âm còn giúp loại trừ tốt một số bệnh lý cần phân biệt như sỏi đường mật, viêm túi mật, viêm ruột thừa…và có thể thấy hình ảnh viêm phần phụ như ứ dịch, ứ mủ, áp xe vòi trứng, buổng trứng…Siêu âm đầu dò âm đạo có thể cho kết quả chính xác hơn.

CT bụng:Có thuốc cản quang là một phương pháp tốt để tìm các dấu hiệu dày bao gan, dày phúc mạc, mạc treo khu trú, dịch ổ bụng và nhất là các dấu hiệu viêm ứ nước, ứ mủ hoặc áp xe phần phụ .

Xét nghiệm máu:

– Men gan: nếu men gan tăng khi điều trị kháng sinh có đáp ứng chứng tỏ viêm bao gan là thủ phạm gây tăng men gan.

– Công thức máu: Bạch cầu có thể bình thường hoặc tăng.

-CRP và lắng máu:thường tăng.

Vi sinh học:bệnh phẩm được phân lập từ các dịch tiết sinh học như cổ TC, âm đạo, dịch quanh gan, trực tràng, niệu đạo, thanh quản -> cấy, PCR để tìm C trachomatis, lậu cầu (trong đó PCR có độ chính xác cao). Ngoài ra  Kháng thể kháng C trachomatis cũng có giá trị trong chẩn đoán.

Nội soi ổ bụng

6. Chẩn đoán phân biệt:

Bao gồm: viêm gan, viêm bể thận, viêm ruột thừa, loét dạ dày… nhưng hay nhầm lẫn nhất là viêm túi mật.

7.Điều trị:

Thuốc kháng sinh cho các nhiễm trùng và thuốc giảm đau.

Hạn chế hoạt động tình dục cho đến khi không còn nhiễm trùng.

Read Full Post »

 

    Hội chứng mittelschmerz

 

Hội chứng mittelschmerz được biết đến là hội chứng chảy máu giữa kì kinh.
Hội chứng mittelschmerz được đặc trưng bởi cơn đau bụng vùng chậu thấp thường xảy ra ở giữa chu kì kinh nguyệt ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ.
Cơn đau thường xuất hiện đột ngột và thường giảm xuống trong vòng giờ,đôi khi nó có thể kéo dài hai hoặc ba ngày.Trong một số trường hợp nó có thể kéo dài đến chu kỳ sau. Sự rụng trứng xảy ra vào một buồng trứng ngẫu nhiên mỗi chu kỳ, cơn đau có thể đổi chỗ cho nhau hoặc vẫn cùng một bên từ một chu kỳ này sang chu kì khác.
Những cơn đau của của hội chứng mittelschmerz được đôi khi bị nhầm lẫn với viêm ruột thừa và là một trong các chẩn đoán phân biệt của viêm ruột thừa ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ. Chẩn đoán của mittelschmerz thường được đưa ra nếu một người phụ nữ là giữa chu kỳ và khám phụ khoa cho thấy không có bất thường. Nếu cơn đau kéo dài và nghiêm trọng, thủ tục chẩn đoán khác như siêu âm bụng có thể được thực hiện để loại trừ các nguyên nhân khác gây đau bụng.

Nguyên nhân của hội chứng

mittelschmerz

Người ta không biết lý do tại sao một số phụ nữ bị đau mittelschmerz rụng trứng, và những người khác thì không. Tuy nhiên, có một số lý thuyết là lý do tại sao phụ nữ trải nghiệm những chuột rút giữa chu kỳ. Trong quá trình rụng trứng, trứng của bạn được phát hành từ một vỏ bọc, gọi là nang. Khi phá vỡ nang, nó giải phóng chất lỏng và máu. Chất dịch này và máu thực sự có thể gây kích ứng niêm mạc của bụng, gây đau. Mittelschmerz cũng có thể được gây ra bởi sự tăng trưởng và vỡ nang buồng trứng, có thể kéo căng bề mặt của buồng trứng, gây ra đau.

• Nang sưng: sưng các nang trong buồng trứng trước khi rụng trứng . Trong khi chỉ có một hoặc hai quả trứng trưởng thành để các điểm được phát hành, một số lượng các nang phát triển trong giai đoạn nang của chu kỳ kinh nguyệt (không chi phối nang teo trước khi sự rụng trứng). Bởi vì các nang phát triển trên cả hai mặt, lý thuyết này giải thích mittelschmerz xảy ra đồng thời trên cả hai bên của bụng.

• Bức tường vỡ buồng trứng: Buồng trứng không có khe hở; rụng trứng trứng bị hư thông qua các bức tường của buồng trứng. Điều này có thể làm cho sự rụng trứng của chính nó gây đau đớn cho một số phụ nữ
• Ống dẫn trứng co lại: Sau khi rụng trứng, ống dẫn trứng hợp đồng (tương tự như nhu động của thực quản), có thể gây ra đau ở một số phụ nữ.
• Tế bào cơ trơn co: rụng trứng, đau này có thể được liên quan đến tế bào cơ trơn co lại trong buồng trứng cũng như trong các dây chằng của nó. Những cơn co thắt này xảy ra trong phản ứng với một mức độ gia tăng của prostaglandin F2-alpha, bản thân qua trung gian của việc tăng hóc môn luteinizing (LH).
• Kích thích: Tại thời điểm rụng trứng, máu hoặc chất lỏng khác được phát hành từ các nang trứng vỡ. Chất lỏng này có thể gây kích ứng niêm mạc bụng.

Các dấu hiệu của mittelschmerz

• đau vùng hốchậu
• kéo dài hơn một ngày
• sốt
• chóng mặt hoặc ngất xỉu
• tiểu buốt
• sưng bụng
• phân có máu hoặc nôn mửa
• chán ăn

Các phương pháp giảm đau:

Cơn đau là không có hại và không có nghĩa là sự hiện diện của bệnh. Không cần điều trị. Thuốc giảm đau ( thuốc giảm đau ) có thể cần thiết trong các trường hợp đau đớn kéo dài, cường độ cao.
• Uống nước: Cố gắng uống từ sáu đến tám ly nước mỗi ngày. Nước sẽ giúp giữ cho cơ thể đủ nước, sẽ làm giảm bớt chuột rút.
null
• Sử dụng một hệ thống sưởi ấm nhiệt giúp làm dịu cơn đau. Sử dụng vật nóng và giữ nó trên bụng của bạn trong 15 phút hoặc lâu hơn

Read Full Post »

 

VIÊM PHẦN PHỤ – TAI BIẾN CÁCH PHÒNG TRÁNH.

I. Đại cương

Viêm phần phụ là tình trạng viêm nhiễm xảy ra ở vòi trứng, buồng trứng, dây chằng quanh tử cung vòi trứng. Viêm vòi trứng là tổn thương quan trọng, có thể gây vô sinh, chửa ngoài tử cung. Tổn thương buồng trứng chủ yếu là xơ hóa.

Viêm phần phụ Thường gặp ở người trẻ đường vào của bệnh là qua cổ tử cung (viêm cổ tử cung, viêm niêm mạc tử cung), qua tử cung vào vòi trứng hoặc đường bạch mạch, cũng có khi do đường máu.

 

II. Nguyên nhân:

-Nguyên nhân của viêm phần phụ rất đa dạng: có thể là biến chứng của viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung hoặc quan hệ tình dục không an toàn.

-Do mầm bệnh thường gặp là tụ cầu, liên cầu, lậu cầu, chlamydia…

 

-Do thầy thuốc: Do thăm khám, làm các thủ thuật nạo hút thai, đặt DCTC, đỡ đẻ, KSTC, chụp TCVT… không vô trùng

-Đặt dụng cụ tử cung cũng là một yếu tố thuận lợi.

-Do nội sinh: Mất cân bằng nội tiết, miễn dịch làm cho các vi khuẩn ở âm đạo, cổ TC trở nên gây bệnh.

 

III. Mầm bệnh:

-Lậu cầu.

-Chlamydia trachomatis.

-Các vi trùng yếm khí, E.Coli, liên cầu, tụ cầu phối hợp.

Các nguy cơ thường gặp: tuổi trẻ các chất nhầy ở cổ tử cung nhiều, vệ sinh phụ nữ chưa đảm bảo, hoạt động tình dục mạnh, quan hệ tình dục rộng rãi, mang dụng cụ tử cung.

IV. Chẩn đoán

: 1. Hình thái lâm sàng điển hình:

 

• Đau hố chậu: thường đau hai bên, nhưn bao giờ cũng có một bên đau nhiều hơn. Đau liên tục, có thể đau âm ỉ, tăng lên khi lao động (mạn tính) hoặc đau rõ rệt, dữ dội (cấp tính).
• Sốt: sốt vừa hoặc nhẹ (37,5oC)
• Khí hư: có thể thấy khí hư ra nhiều trong đợt đau cấp.
• Ra máu bất thường trước, sau khi có kinh nguyệt.

2. Hình thái không điển hình:

-50% các trường hợp không sốt, 20% chỉ đau 1 bên hố chậu, 40% có rong kinh

-Các hình thái bán cấp thường gặp do Chlamydia hoặc do dùng kháng sinh ngay từ đầu nên sốt ít, khám TC bình thường hoặc có 1 khối bên cạnh TC nắn đau.

Tiến triển và biến chứng của viêm phần phụ như thế nào?

Viêm phần phụ có thể cấp tính với các biểu hiện dữ dội (đau hố chậu hai bên, sốt cao, khí hư ra nhiều) hoặc chuyển thành giai đoạn mạn tính với các biểu hiện không rõ rệt (đau âm ỉ hai hố chậu, tức nặng, không sốt)

Các biến chứng của viêm phần phụ là ứ mủ, ứ nước vòi trứng, áp xe buồng trứng, và khi các ổ mủ này vỡ sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Một biến chứng nguy hiểm nữa là gây hẹp tắc vòi trứng dẫn đến vô sinh hoặc thai ngoài tử cung.

 

Chẩn đoán phân biệt: Viêm ruột thừa, viêm đại tràng, chửa ngoài tử cung, huyết tụ thành nang, lạc nội mạc tử cung, u nang buồng trứng xoắn

V. Xét nghiệm:

Máu: BC đa nhân cao ( 50% sốlượng bình thường, tốc độ máu lắng ít có giá trị

Chẩn đoán huyết thanh với Chlamydia, với giang mai.

Bệnh phẩm ở âm đạo và cổ tử cung ít có giá trị. Bệnh phẩm ở vòi trứng và ổ bụng có giá trị nhiều ( qua soi hay mở bụng)

Tiến triển: Nếu điều trị đúng và kịp thời sau 48h bệnh nhân hết đau, sốt, triệu chứng thực thể giảm. Cần điều trị kháng sinh đủ liều.

Nếu siêu âm đường âm đạo ĐK khối viêm > 8cm có chỉ định phẫu thuật tránh vỡ khối mủ vào ổ bụng

Di chứng: ứ nước vòi trứng, trở thành viêm phần phụ mãn tính, vô sinh do tắc dính vòi trứng.

VI. Điều trị:

1.      Khi có kinh thì tránh quan hệ tình dục để tránh viêm nhiễm.

2.      Chú ý vệ sinh cá nhân, đặc biệt là trong kỳ kinh nguyệt, sau khi sinh, sau khi sảy, phá thai.

3.      Các nhân viên y tế phải tuân thủ nghiêm ngặt các thao tác vô trùng, các nhân viên y tế khi đỡ đẻ hoặc hoặc làm các thủ thuật phần tử cung phải sát khuẩn, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình của thao tác vô trùng để tránh viêm nhiễm mà bị viêm phần phụ. Thế nên để phòng tránh trước mắt thì sau khi làm thủ thuật xong cần dặn dò bệnh nhân dùng kháng sinh để tránh viêm nhiễm.

4.      Uống nước: viêm nhiễm phần phụ rất dễ dẫn đến nóng trong người cho nên phải chú ý uống nhiều nước để giảm nhiệt độ cơ thể.

5.      Tránh những kiểm tra phụ khoa không cần thiết để tránh viêm nhiễm ngày càng tăng, khiến chứng viêm nhiễm lan sang phần khác.

Điều trị dự phòng:

Điều trị khỏi bệnh lậu.

Phát hiện và điều trị viêm âm đạo, viêm cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung

Vô trùng tuyệt đối khi làm các thủ thuật sản khoa.

 

Read Full Post »

  •  Mô tả chung

Xoắn tinh hoàn khi thừng tinh cuộn tinh hoàn , cắt đứt cung câp máu . Những triệu chứng thường gặp nhất là đau tinh hoàn cấp ; nguyên nhân thường gặp nhất là dị dạng bẩm sinh gọi là “ quả lắc chuông”  ( bell-clapper deformity) . Chuẩn đoán thường bằng lâm sàng nhưng siêu âm có thể hỗ trợ nhiều . Chuẩn đoán và điều trị phải thực hiện sớm để duy trì khả năng tồn tại của tinh hoàn

  •  Dấu hiệu và triệu chứng

Xoắn itnh hoàn thường khởi phát cấp tính với đau tình hoàn và dịu đi trong khoảng 6h .  Thường có phản xja cơ bìu giảm . NHiều triệu chứng xoắn tinh hoàn giống viêm mào tinh do nhiễm trùng

Ở bệnh nhi, tính năng sau gắn liền với khả năng cao của độ xoắn [ 2 ] : Đau thời hạn chưa đầy 24 tiếng đồng hồ

Ói buồn nôn hay

Vị trí cao của tinh hoàn

Bất thường phản xạ cơ bìu

  •  Yếu tố rủi ro

Bẩm sinh

Kích cỡ :  tinh hoàn lớn hoặc vì sự thay đổi bình thường haowjc  khối u làm tăn nguy cơ

Nhiệt độ : xoắn tinh hoàn đôi khi gọi là “hội chứng mùa đông” . Vì thường xảy ra vào mùa đông , khi trời lạnh

  • Chuẩn đoán

Khám lâm sàng :

Dấu hiệu prehn không còn đáng tin cậy để phân biệt xoắn tinh hoàn với các nguyên nhân gây đau tinh hàn khác như là viêm mào tinh . Tring ca xoắn tinh hoàn điển hình , thường không có phản xạ cơ bìu , bìu nói chung không phồng nhiều và tinh hoàn có thể nằm ngang

Cận lâm sàng

siêu âm màu doppler của bìu có độ tin cậy gần 100%. Xác định bởi sự vắng mặt của dòng máu trong tinh hoàn ở đoạn xoắn , phân biệt với viêm mào tinh

@ Nguồn :

http://en.wikipedia.org/wiki/Testicular_torsion

http://emedicine.medscape.com/article/778086-overview

http://www.aafp.org/afp/2006/1115/p1739.html

Read Full Post »

Older Posts »