Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Mạch máu’ Category

I. Đại cương:

Bệnh động mạch cảnh là một bệnh lý ảnh hưởng tới các mạch máu dẫn lên đầu và não bộ (bệnh mạch máu não). Giống như tim, tế bào não cần một nguồn cung cấp máu giàu oxy liên tục. Do đó, lượng máu được cung cấp dồi dào đến não bởi 2 động mạch cảnh ở trước cổ và 2 động mạch đốt sống ở sau. Cơn đột quỵ thường xảy ra khi động mạch cảnh bị tắc và não không được cung cấp đủ oxy.

Những tổn thương động mạch cảnh có thể gây ra cơn đột quỵ:

– Xơ vữa động mạch cảnh do bệnh lý tăng lipid trong máu.

– Huyết khối kẹt tại động mạch cảnh do mảng xơ vữa.

– Mảng xơ vữa động mạch cảnh bị bóc tách ra và làm tắc một hay nhiều mạch máu não.

II. Yếu tố nguy cơ:

Cứ mỗi 4 phút ở Mỹ có 1 người chết vì đột quỵ. Càng lớn tuổi, nguy cơ đột quỵ càng cao. Tỷ lệ mắc đột quỵ ở nam lớn hơn nữ. Đột quỵ là 1 trong 3 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người lớn tuổi,  hoặc có thể để lại những biến chứng nặng nề sau cơn đột quỵ.

Người có bệnh lý về động mạch cảnh cũng thường mắc kèm bệnh động mạch vành, và qua những nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh có yếu tố di truyền. Vì vậy, các yếu tố nguy cơ bệnh động mạch cảnh tương tự như những người bệnh động mạch vành:

– Tăng LDLP (cholesterol xấu) và triglycerides trong máu.
– Cao huyết áp
– Bệnh tiểu đường
– Hút thuốc lá
– Tiền căn gia đình có bệnh động mạch cảnh hay mạch vành.
– Béo phì
– Ít vận động thể lực.

III. Triệu chứng:

Tuy không có triệu chứng cụ thể cho bệnh động mạch cảnh, nhưng các dấu hiệu của một cơn đột quỵ có thể là yếu tố để nhận ra bệnh nhân bị tắc nghẽn động mạch cảnh. Cơn thiếu máu cục bộ thoáng qua (Transient ischemic attacks (TIA)) là một trong những dấu hiệu cảnh báo quan trọng nhất mà ta có thể sớm có một cơn đột quỵ. Dấu hiệu trên có thể được gọi là cơn tiểu đột quỵ (mini-stroke). Biểu hiện của TIA là đau đầu, chóng mặt, tê, ngứa ran, nhìn mờ, lú lẫn, hoặc tê liệt có thể kéo dài bất cứ lúc nào từ một vài phút đến vài giờ.

Những dấu hiệu hoặc triệu chứng của tắc nghẽn động mạch cảnh bao gồm:

– Yếu hoặc liệt tay, chân hoặc một bên mặt
– Tê hoặc ngứa ran của cánh tay, chân hay một bên mặt.
– Khó nuốt.
– Mất thị lực hoặc thị lực một mắt kém.
– Chóng mặt, ngất xỉu, hoặc hôn mê.
– Đột ngột nhức đầu dữ dội không rõ nguyên nhân.

IV. Chẩn đoán:

Trong hầu hết trường hợp, người thầy thuốc có thể phát hiện các dấu hiệu quả hẹp động mạch cảnh thông qua:

– Các triệu chứng cơ năng của một cơn tiểu đột quỵ.

– Thăm khám lâm sàng với những triệu chứng thiếu máu não và quan trọng nhất là âm thổi nghe được ở động mạch cảnh.

Tuy nhiên, không phải lúc nào các dấu hiệu ấy cũng điển hình, đòi hỏi phải có những phương pháp cận lâm sàng. Các công cụ chẩn đoán khác bao gồm:

– Siêu âm Doppler để kiểm tra lưu lượng máu và đo độ dày của động mạch cảnh.

– Magnetic Resonance Angiography (MRA) hay MRI- phương pháp chụp ảnh cộng hường từ cho phép chụp hình ảnh động mạch cảnh một cách hiệu quả.

– Oculoplethysmography – theo dõi mạch đập của động mạch cảnh và so sánh 2 bên, cho phép đánh giá gián tiếp tình trạng hẹp động mạch cảnh.

– Chụp động mạch và chụp mạch kỹ thuật số (DSA) đánh giá hình ảnh động mạch cảnh sau kh tiêm thuốc cản quang.

V. Điều trị:

Ngoài việc điều trị xơ vữa động mạch hoặc rối loạn cơ bản khác, thay đổi lối sống, dùng thuốc, các biện pháp can thiệp qua da, hoặc phẫu thuật có thể được cân nhắc để làm thông động mạch cảnh và làm giảm nguy cơ đột quỵ.

Thay đổi lối sống

Bỏ hút thuốc.

Kiểm soát huyết áp, cholesterol, tiểu đường và bệnh tim.

Hạn chế bia rượu.

Hoạt động thể dục thể thao (kèm 30 phút đi bộ).

Ăn ít muối.

Thuốc

Thuốc chống đông máu và aspirin đã được chứng minh là làm giảm nguy cơ đột quỵ. Trong hầu hết trường hợp, bệnh nhân sẽ cần phải dùng những thuốc này để duy trì phần đời sống còn lại.

T-PA (Tissue plasminogen activator) được cho là một bước đột phá lớn trong điều trị đột quỵ do cục máu đông, chiếm 80% các trường hợp đột quỵ.

Can thiệp qua da

Tim mạch can thiệp có thể thực hiện nong mạch mạch cảnh để mở phần động mạch cảnh bị tắc nghẽn. Cơ chế hoạt động cũng tương tự như stent động mạch vành. Đây được xem như thủ thuật đơn giản hơn và ít rủi ro hơn so với phương pháp phẫu thuật truyền thống.

Phẫu thuật

Carotid endarterectomy nhằm loại bõ mảng xơ vữa bám ở thành động mạch cảnh.

Sau khi bệnh nhân được gây tê, bác sĩ phẫu thuật rạch một đường ở cổ tại vị trí tắc nghẽn.

Một ống được lắp ở trên và dưới tắc chỗ nghẽn để điều chỉnh lại lưu lượng máu.

Bác sĩ phẫu thuật sau đó có thể mở động mạch cảnh và loại bỏ các mảng bám. Sau khi khâu động mạch cảnh lại, ống điều chỉnh lưu lượng sẽ được tháo ra.

Nguồn tư liệu:

http://www.texasheartinstitute.org/HIC/Topics/Cond/CarotidArteryDisease.cfm

http://en.wikipedia.org/wiki/Carotid_artery_stenosis

Read Full Post »

THUYÊN TẮC ĐỘNG MẠCH  PHỔI

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Thuyên tắc động mạch phổi tình trạng có một cục máu đông trong động mạch phổi, đó là các mạch máu vận chuyển máu từ tim đến phổi.

Đó là một tình trạng nghiêm trọng và có khả năng đe dọa tính mạng vì nó ngăn chặn máu đến phổi của chúng ta.

Khi máu rời khỏi tim, nó nghèo oxy và cần phải đến phổi để lấy oxy.

I.Các triệu chứng của thuyên tắc động mạch phổi

Các dấu hiệu và triệu chứng của thuyên tắc động mạch phổi(một cục máu đông trong động mạch cung cấp máu đến phổi) bao gồm đau ngực, khó thở và ho.
Rất  khó khăn để nhận ra những dấu hiệu và triệu chứng của Thuyên tắc động mạch phổi vì chúng có thể khác nhau giữa các cá nhân.

Các triệu chứng sau đây có thể xảy ra theo thứ tự  liệt kê:

– Đau ngực – đau nhói như bị đâm có thể tồi tệ hơn khi hít sâu
– Khó thở –  có thể đến đột ngột hoặc phát triển dần dần
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
– Lo sợ
– Ho – thường là ho khan, nhưng có thể  ho ra máu hoặc chất nhầy chứa máu
– Vã mồ hôi
– Chóng mặt, hoa mắt

Bạn nên đến bác sĩ càng sớm càng tốt nếu bạn gặp nhiều triệu chứng kết hợp lại. Nếu không thể đi khám bác sĩ , bạn có thể gọi dịch vụ chăm sóc y tế hoặc bạn có thể liên hệ với y tế địa phương .
Thuyên tắc động mạch phổi được nghi ngờ nếu bạn có các triệu chứng trên và gần đây bạn  hay đau ở cánh tay hoặc chân , hoặc nếu bạn có bất kỳ yếu tố nguy cơ liên quan.

II.Nguyên nhân của thuyên tắc phổi

Thuyên tắc động mạch phổi có thể xảy ra khi một phần hoặc tất cả cục máu đông di chuyển theo dòng máu và bị kẹt trong động mạch phổi.
Các động mạch phổi là các mạch máu vận chuyển máu từ tim đến phổi.
Cục máu đông thường ban đầu phát triển ở một trong các tĩnh mạch sâu ở chân . Điều này được gọi là huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT).

Ba trong số những nguyên nhân chính của một cục máu đông là:

– máu chảy chậm
– mạch máu hư hỏng
– máu đông quá dễ dàng

Dưới đây là những mô tả chi tiết hơn
lưu lượng máu chậm

Nếu bạn không hoạt động, máu có xu hướng ở phần dưới của cơ thể, đặc biệt là ở chân .
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Điều này thường không phải là một vấn đề bởi vì khi bạn bắt đầu di chuyển, dòng máu tăng và máu sẽ đi khắp cơ thể của bạn.
Tuy nhiên, nếu bạn là bất động một thời gian dài , dòng chảy của máu đi khắp cơ thể của bạn có thể chậm lại một cách đáng kể. Bạn có thể bất động:

-sau một căn bệnh suy nhược, chẳng hạn như là một tai biến mạch máu não (nơi cung cấp máu cho não bị cắt đứt)
-sau chấn thương
-sau phẫu thuật
-khi đi trên một hành trình dài bằng tàu hỏa, máy bay hoặc xe hơi

Nếu lưu lượng máu của bạn chậm lại do một thời gian dài không hoạt động, nguy cơ của một cục máu đông hình thành tăng.
Tổn thương mạch máu
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Nếu mạch máu bị hư hỏng, thành của các mạch máu có thể bị thu hẹp hoặc bị tắc . Điều này có thể dẫn đến hình thành cục máu đông.
Các mạch máu có thể bị hư hỏng do chấn thương như gãy xương hoặc tổn thương cơ nghiêm trọng. Nếu mạch máu bị hư hỏng trong quá trình phẫu thuật, một cục máu đông có thể phát triển, đặc biệt là trong phẫu thuật được thực hiện ở nửa dưới của cơ thể .
Tình trạng như viêm mạch (viêm thành mạch máu) và một số loại thuốc, chẳng hạn như hóa trị, cũng có thể dẫn đến tổn thương mạch máu.

Máu cục máu đông quá dễ dàng

Nguy cơ phát triển thuyên tắc mạch phổi tăng lên nếu bạn có những yếu tố nguy cơ để cục máu đông hình thành dễ dàng hơn so với bình thường.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Điều kiện làm tăng khả năng đông máu bao gồm:

– ung thư (điều trị ung thư, chẳng hạn như hóa trị và xạ trị, cũng có thể làm cho máu đông máu nhiều hơn)
– suy tim
– chứng ưu huyết khối – một bệnh di truyền mà làm cho máu của bạn dễ bị đông.
– Hội chứng Hughes – một tình trạng mà máu trở nên dính , tăng xu hướng đông máu

Các yếu tố khác làm tăng nguy cơ phát triển thuyên tắc mạch phổi bao gồm:

-tuổi của bạn – những người tuổi từ 40 trở lên có nguy cơ cao
-có một cục máu đông trước đó
-có một thành viên trong gia đình mà đã có một cục máu đông
-thừa cân hoặc béo phì
-đang  mang thai
-hút thuốc lá
– uống thuốc tránh thai kết hợp hoặc thay thế hormone (HRT)

Tỉ lệ hình thành cục máu đông nếu bạn đang dùng thuốc hoặc HRT là rất nhỏ và bác sĩ sẽ đánh giá nguy cơ cá nhân của bạn trước khi kê toa .

 

III.Chẩn đoán thuyên tắc động mạch phổi

Chẩn đoán thuyên tắc động mạch phổi  có thể là khó khăn vì những dấu hiệu và triệu chứng khác nhau giữa mọi người và thông thường trong nhiều tình trạng khác nữa.
Khoảng một nửa người tiến triển thuyên tắc động mạch phổi trong khi họ đang ở trong bệnh viện. Tình trạng này có thể được nghi ngờ nếu:

– bạn có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ liên quan, chẳng hạn như là trên 40 tuổi hoặc có một cục máu đông trước đó
– bạn có một cục máu đông trong một chân , được gọi là huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT)
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
-không có lời giải thích chính xác khác cho các triệu chứng của bạn

Điều quan trọng là thuyên tắc động mạch phổi được chẩn đoán một cách chính xác bởi vì điều trị không phải là luôn luôn dễ dàng và có thể gây ra tác dụng phụ.
Bạn có thể có các xét nghiệm để kiểm tra phổi của bạn đang làm việc  như thế nào. Để xác nhận xem nơi mà thuyên tắc động mạch phổi gây ra các triệu chứng của bạn, bạn có thể có một X-quang ngực. Bạn cũng có thể có một số các bài kiểm tra chuyên khoa dưới đây.
Thử nghiệm D-dimer
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
D-dimer là một protein được tìm thấy trong máu sau khi một cục máu đông đã bị phá vỡ. Một xét nghiệm D-dimer có thể được sử dụng để giúp chẩn đoán các bất thường trong đông máu, chẳng hạn như huyết khối (cục máu đông phát triển trong mạch máu).
Nếu một xét nghiệm máu cho thấy mức độ cao D-dimer, nó có nghĩa là mảnh máu đông được trôi theo dòng máu của bạn và có thể đã  kẹt trong động mạch phổi .

Chụp X quang động mạch phổi
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Trong thời gian chụp cắt lớp vi tính  động mạch phổi (CTPA), thuốc cản quang được tiêm vào mạch máu của phổi của bạn và một máy quét CT chụp.

CT scan là một kiểu đặc biệt của X-ray tạo ra một hình ảnh rất chi tiết bên trong cơ thể của bạn. Nếu có một Thuyên tắc động mạch phổiở một trong phổi của bạn, nó sẽ hiển thị như cái túi trong việc cung cấp máu .

Chụp thông khí
Chụp thông khi hoặc tưới máu đo lượng không khí và lưu lượng máu trong phổi của bạn. Nếu một phần của phổi của bạn có không khí , nhưng không cung cấp máu, nó có thể là kết quả của thuyên tắc động mạch phổi.

IV.Điều trị thuyên tắc phổi
Nếu bạn được chẩn đoán là thuyên tắc động mạch phổi, điều trị khẩn cấp có thể  hòa tan  cục máu đông. Bạn cũng sẽ cần dùng thuốc để ngăn chặn đông máu .
Khoảng một nửa trong  tất cả các trường hợp Thuyên tắc động mạch phổixảy ra khi một người đang ở trong bệnh viện. Nếu bạn  không ở trong bệnh viện, bạn sẽ được nhận sự điều trị. Bạn sẽ được cung cấp oxy để giúp bạn hít thở thoải mái.

Nếu thuyên tắc động mạch phổi của bạn là nghiêm trọng và đe dọa mạng sống, thuốc để hòa tan các cục máu đông sẽ được kê toa. Điều này được gọi là liệu pháp tan huyết khối.

Bước tiếp theo là để ngăn chặn các cục máu đông hơn hình thành hơn nữa bằng cách sử dụng thuốc chống đông máu.
Thuốc chống đông máu

Cũng như làm giảm khả năng đông máu , thuốc chống đông ngăn chặn các cục máu đông  ngày càng lớn hơn. Họ cũng có thể giúp ngăn ngừa một phần của các cục máu đông bị phá vỡ và trở nên kẹt trong dòng máu khác của bạn (tắc mạch).

Thuốc chống đông máu thường được gọi loại thuốc làm loãng máu, nhưng thật sự chúng không làm loãng máu. Chúng thay đổi các chất trong máu để ngăn ngừa cục máu đông hình thành  một cách dễ dàng.

Heparin và warfarin là hai thuốc chống đông máu thường được quy định để điều trị thuyên tắc động mạch phổi. Heparin thường được sử dụng đầu tiên bởi vì nó ngăn chặn cục máu đông hình thành ngay lập tức. Warfarin có thể mất nhiều thời gian để bắt đầu hoạt động nhưng nó cũng có hiệu quả hơn trong việc ngăn ngừa cục máu đông  .

Heparin và warfarin được bàn luận chi tiết hơn dưới đây.
Heparin
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Có hai loại khác nhau của heparin – tiêu chuẩn heparin và các heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH). Heparin tiêu chuẩn được tiêm tĩnh mạch, có nghĩa là nó được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch, trong khi LMWH được tiêm vào da.

Nếu bạn sử dụng heparin tiêu chuẩn, bạn sẽ cần phải nhập viện để thuốc có thể được đưa vào tĩnh mạch  thông qua một đường truyền tĩnh mạch. Các thuốc có thể hoạt động khác nhau từ người này sang người khác vì thế liều lượng phải được theo dõi cẩn thận và điều chỉnh nếu cần thiết.

LMWH hoạt động hơi khác nhau từ heparin tiêu chuẩn. Nó có chứa các phân tử nhỏ hơn có nghĩa là ảnh hưởng của nó là đáng tin cậy hơn. Một liều của LMWH có thể là  tiêm một lần và bạn sẽ không phải ở lại bệnh viện để được theo dõi.

Cả hai heparin tiêu chuẩn và LMWH có thể gây ra nhiều tác dụng phụ khác nhau, bao gồm:

– phát ban da
– đau đầu
– đau dạ dày
– mệt mỏi
– suy tủy (nếu được thực hiện trong một khoảng thời gian dài)

Trong một số trường hợp hiếm gặp, heparin cũng có thể gây ra một phản ứng nghiêm trọng làm cho cục máu đông hiện tại tồi tệ hơn và làm cho cục máu khác hình thành.

Phản ứng này và suy tủy  là ít có khả năng xảy ra nếu bạn đang dùng LMWH. Vì vậy, trong nhiều trường hợp LMWH sẽ được khuyến cáo.

       Warfarin
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Warfarin được thực hiện dưới dạng viên nén. Bạn có thể cần mang nó cho đến sáu tháng sau khi điều trị ban đầu với heparin để ngăn ngừa cục máu đông phát triển hơn nữa. Trong một số trường hợp, warfarin có thể cần phải dính liền với nửa cuộc sống còn lại của bạn.

Như với heparin tiêu chuẩn, tác dụng của warfarin khác nhau từ người này sang người khác, vì vậy bạn sẽ cần phải được giám sát chặt chẽ và có xét nghiệm máu thường xuyên để đảm bảo dùng đúng liều lượng.

Bạn có thể cần phải có hai hoặc ba xét nghiệm máu một tuần khi lần đầu tiên bắt đầu dùng warfarin cho đến khi liều lượng chính xác được xác định. Sau này, bạn có thể chỉ cần phải xét nghiệm máu mỗi tháng một lần.

Có một số yếu tố có thể làm thay đổi hiệu quả của warfarin, bao gồm:

-chế độ ăn uống
-thuốc khác mà bạn đang dùng
-gan còn tốt không

Vì vậy, trong khi dùng warfarin bạn nên:

-giữ chế độ ăn uống của bạn phù hợp
-hạn chế rượu và không uống rượu nhiều hơn liều lượng được đề nghị (3-4 đơn vị một ngày đối với nam giới và 2-3 đơn vị một ngày cho phụ nữ)
-uống thuốc  cùng một thời điểm mỗi ngày
-không dùng bất kỳ thuốc nào khác mà không có chỉ định của dược sĩ hoặc bác sĩ

-tránh dùng các loại thảo dược

Như với heparin, warfarin có thể gây ra một loạt các tác dụng phụ bao gồm:

-phát ban da
-chảy máu – chẳng hạn như chảy máu mũi, chảy máu trực tràng hoặc máu trong nước tiểu
-tiêu chảy
-sốt
-buồn nôn và ói mửa
-vàng da

-gan có vấn đề

Mang thai

Nếu bạn đang mang thai, bạn sẽ được tiêm heparin thay vì viên thuốc warfarin cho suốt quá trình điều trị của bạn.

V.Phòng ngừa thuyên tắc động mạch phổi

Nếu bạn đi vào bệnh viện để phẫu thuật, nguy cơ hình thành cục máu đông sẽ được đánh giá. Tuổi của bạn, bệnh sử và loại phẫu thuật là những gì sẽ ảnh hưởng đến các nhân tố hình thành máu đông.

 Các yếu tố nguy cơ

Nguy cơ phát triển một thuyên tắc động mạch phổi được nâng lên nếu bạn đang phẫu thuật, đặc biệt nếu nó là nửa dưới của cơ thể của bạn.

Một chấn thương, hoặc phẫu thuật , có thể làm hỏng các mạch máu của bạn và không hoạt động trong khi bạn đang ở trong bệnh viện có thể làm cho  dòng chảy của máu đi khắp cơ thể của bạn. Những yếu tố này làm tăng nguy cơ phát triển một cục máu đông.

Các yếu tố khác làm tăng cơ hội của bạn phát triển một cục máu đông bao gồm:

-tuổi 40 hoặc trên
-có phẫu thuật bụng, hông, chân và có gây mê toàn thân
-tiền căn có cục máu đông
-có các thành viên trong gia đình đã có cục máu đông
-thừa cân hoặc béo phì
-hiện có ung thư hoặc trong quá khứ
-có vấn đề với tim, phổi, ruột hoặc khớp

Ngăn chặn các cục máu đông
Thuốc chống đông máu

Nếu bạn có bất kỳ yếu tố nguy cơ trên, đội ngũ y tế của quý vị có thể khuyên bạn nên dùng một loại thuốc chống đông máu, như warfarin, trong khi bạn đang ở trong bệnh viện và khi về nhà.

Vớ y khoa
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Mặc vớ y khoa và sử dụng các thiết bị nén cũng có thể được yêu cầu.

Vớ y khoa ép chặt xung quanh chân của bạn và làm cho máu chảy nhanh hơn đi khắp cơ thể của bạn.

Thiết bị nén được bơm phồng và làm việc theo cách tương tự, mở rộng khoảng cách đều đặn để siết chặt đôi chân của bạn và tăng động dòng chảy của máu.
Tăng tính di động

Điều này rất quan trọng , bạn tăng di động càng sớm càng tốt bằng cách di chuyển xung quanh hoặc tập thể dục chân.

Tránh tham gia cuộc hành trình dài bốn tuần sau khi bạn đi ra khỏi bệnh viện.

Hút thuốc lá, chế độ ăn uống và tập thể dục

Hơn nữa, bạn có thể làm giảm nguy cơ thuyên tắc động mạch phổi bằng cách:

-không hút thuốc (nếu bạn hút thuốc)
-ăn một chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh – ít chất béo với nhiều trái cây và rau quả
-tập thể dục thường xuyên – ít nhất là 150 phút (2 giờ 30 phút) một tuần
-duy trì một trọng lượng khỏe mạnh và giảm cân nếu bạn đang thừa cân hoặc béo phì

Nguồn: http://www.nhs.uk/Conditions/pulmonary-embolism/Pages/Introduction.aspx

Read Full Post »

GIỚI THIỆU

Hội chứng Klippel-Trenaunay là một bệnh lý rối loạn hệ mạch máu bẩm sinh chưa rõ nguyên nhân. Hội chứng biểu hiện bởi tam chứng đặc trưng: bớt màu rượu vang (sinh sản mao mạch bất thường) ở  một hoặc nhiều chi; dị dạng mạch máu (giãn tĩnh mạch, khiếm khuyết tĩnh mạch hoặc tĩnh mạch nhân đôi)  và phì đại hoặc chi. Hơn 90% trường hợp  của hội chứng Klippel-Trenaunay biểu hiện ở chi dưới.
Hội chứng Klippel-Trenaunay từng được gọi là hội chứng Klippel-Trenaunay-Weber, nhưng từ Weber đã được lược đi để tránh nhầm lẫn với hội chứng Parkes -Weber. Hội chứng Parkes -Weber đặc trưng bởi một hoặc nhiều dị dạng động tĩnh mạch có vài biểu hiện tương tự như Hội chứng Klippel-Trenaunay nhưng thường trầm trọng hơn vì Hội chứng Klippel-Trenaunay không có dị tật động tĩnh mạch.

TRIỆU CHỨNG
DỊ DẠNG MAO MẠCH Ở DA
đặc trưng bởi sư tụ máu mao mạch dưới da có thể xuất hiện từ khi sinh ra trong 98% trường hợp hiện diện các bớt rượu vang, thường là màu đỏ tím hoặc màu xanh nhạt (trái ngược với hội chứng Weber Parkes là màu đỏ tươi).

GIÃN TĨNH MẠCH
Thường  là những tĩnh mạch nông, nhưng có thể là tĩnh mạch trong cơ, xương hoặc các cơ quan nội tạng, bao gồm cả lách, gan, màng phổi, bàng quang hoặc đại tràng.
Thông thường những triệu chứng sẽ biểu hiện khi trẻ bắt đầu tập đi bộ.
thiểu sản hoặc bất sản mạch bạch huyết dẫn đến phù nề. Điều này cũng có thể là yếu tố giải thích những triệu chứng phức tạp khác và góp phần làm chi sưng to

BẤT THƯỜNG Ở CHI
chi dài bất thường sớm thể hiện qua dáng đi.

Thường phù nề ở đoạn xa của chi. Dị tật thường gặp là to đầu chi, tật nhiều ngón, dính ngón hoặc thiếu ngón.


Sự gia tăng chu vi ngón có thể là đặc điểm chính nếu các mô mềm bị ảnh hưởng nhiều hơn là mô xương.

bệnh nhân có ngón áp út ở tay trái to bất thường

trong một số ít trường hợp, chi bị teo chứ không phải phì đại.
CHẨN ĐOÁN
Ở nhiều bệnh nhân, thông qua bệnh sử và khám thực thể là đủ để chẩn đoán. Tuy nhiên, khi có biến chứng, một số chỉ định chẩn đoán hình ảnh rất có ích. Siêu âm Doppler và chụp cộng hưởng từ MRI có thể đánh giá được tình trạng hệ thống tĩnh mạch sâu. MRI cũng có ích trong bệnh cảnh phì đại mô mềm.

Cẩn trọng trong đánh giá triệu chứng lâm sàng và chỉ định chụp X quang chi bất thường nên được thực hiện trong những thời điểm nhất định để đánh giá sự khác biệt về chiều dài chi và lên kế hoạch ngăn ngừa biến chứng và điều trị. Đối với trường hợp chênh lệch chi dưới quá 2 cm, phẫu thuật chỉnh hình có thể là bước can thiệp cần thiết.

ĐIỀU TRỊ
Điều trị hội chứng Klippel-Trénaunay phụ thuộc vào triệu chứng của mỗi bệnh nhân. Chăm sóc hỗ trợ vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu

 Biện pháp chăm sóc hỗ trợ
Thuốc giảm đau, kháng sinh và dụng cụ hỗ trợ đi lại
Liệu pháp chống đông máu
chèn gót chân
Phẫu thuật can thiệp
Điều trị bằng Laser: làm nhạt màu các bớt rượu vang, Laser cũng được chỉ định khi có vết loét, vì nó có thể chữa lành vết thương.
Phẫu thuật:  Tùy thuộc vào trường hợp mỗi cá nhân và độ bất thường giải phẫu, cắt bỏ một phần cơ thể chứa mô bất thường đôi khi nên cân nhắc.

TIÊN LƯỢNG
Phần lớn bệnh nhân vẫn có tuổi thọ như người bình thường, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của dị tật và có xảy ra biến chứng hay không.
khoảng 10% bệnh nhân có thể xuất hiện bệnh lý tắc mạch phổi.

Nguồn

http://www.sturge-weber.org/resources/about-sws/conditions/17-klippel-trenaunay-syndrome.html

http://www.patient.co.uk/doctor/Klippel-Trenaunay-Weber-syndrome.htm

http://www.cincinnatichildrens.org/health/k/kts/

Hình

http://www.patient.co.uk/images/OM1288a.jpg

http://www.edoj.org.eg/vol005/0502/010/fig6.htm

http://www.edoj.org.eg/vol005/0502/010/fig2.jpg

http://geneticpeople.com/wp-content/uploads/2011/03/bobbyreport001xb.jpg

Read Full Post »

Nguồn:

http://www.hopkinsvasculitis.org/types-vasculitis/buergers-disease/

http://emedicine.medscape.com/article/460027-overview

I.Định nghĩa

Bệnh Buerger hay còn gọi là bệnh thuyên tắc mạch máu, lần đầu tiên được báo cáo bởi Buerger vào năm 1908, được định nghĩa do sự hiện diện của khối máu đông phối hợp với viêm làm hẹp các động mạch nhỏ và vừa cũng như  các tĩnh mạch của chi làm hạn chế lượng máu cung cấp dẫn đến hoại tử . Tình trạng này có liên quan chặt chẽ với việc sử dụng thuốc lá .

India Surgery Peripheral Vascular Surgery, India Surgery Peripheral Vascular Surgery, Peripheral, India Peripheral Vascular

II.Yếu tố nguy cơ

-Hầu hết các bệnh nhân Buerger là những người hút thuốc nặng, nhưng một số trường hợp xảy ra ở bệnh nhân hút thuốc “vừa phải”, và ở người sử dụng thuốc lá không khói.

-Bệnh phổ biến nhất ở Phương Đông, Đông Nam Á, Ấn Độ và Trung Đông.

-Thường gặp ở nam, độ tuổi 20-40 tuổi.

III.Sinh bệnh

Cơ chế bệnh Buerger vẫn chưa rõ ràng nhưng một số khảo sát đã cho thấy có thể bệnh liên quan đến hiện tượng  tự miễn với các thành phần của thuốc lá. Tăng  HLA-A9, HLA-A54, và HLA-B5  cũng có thể thấy ở một số bệnh nhân mắc bệnh Buerger, điều này cho thấy bệnh cũng có thể liên quan một phần đến yếu tố di truyền.

IV.Triệu chứng của bệnh

Các triệu chứng ban đầu của bệnh Buerger thường là cơn đau cách hồi ở các chi.Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh này có thể bao gồm tê  hoặc ngứa ran ở các chi và hiện tượng Raynaud (một tình trạng mà trong đó các chi xa – ngón tay, ngón chân, bàn tay, bàn chân – chuyển sang màu tím khi tiếp xúc với lạnh). Loét da và hoại tử  cũng rất phổ biến trong bệnh Buerger.

Toe gangrene secondary to Buerger's disease

V.Biến chứng

Tử vong do bệnh Buerger là hiếm, nhưng ở những bệnh nhân có bệnh, nếu tiếp tục hút thuốc, 43%  dẫn đến đoạn chi

VI.Chẩn đoán

Bệnh Buerger  cần chẩn đoán phân biệt với xơ vữa động mạch , viêm nội tâm mạc nhiễm trùng màng tim, các loại viêm mạch khác, các rối loạn mô liên kết (ví dụ, lupus, xơ cứng bì), rối loạn đông máu ,… bằng các xét nghiệm máu.

Angiograms (chụp tia X mạch máu) chi trên và dưới có thể hữu ích trong việc chẩn đoán bệnh Buerger.

VII.Điều trị

Bệnh nhân bệnh Buerger cần ngừng hút thuốc ngay lập tức và hoàn toàn. Đây là phương pháp điều trị duy nhất được biết là có hiệu quả trong bệnh Buerger.

Thuốc như steroid chống viêm  cũng như các thuốc chống đông cũng được sử dụng trong điều trị nhưng hiệu quả của chúng vẫn chưa được chứng minh.

Read Full Post »

    

Bệnh lý mạch máu ngoại biên, hay còn gọi là PVD (Peripheral Vascular Disease), bao gồm những tổn thương hoặc thuyên tắc ảnh hưởng đến các mạch máu nằm cách xa tim (tức là những động /tĩnh mạch đem máu đến và đi cho các chi cũng như nội tạng từ vùng dạ dày trở xuống). Ngoài ra, PVD còn có thể ảnh hưởng những động mạch cung cấp máu cho đầu.

     Các dạng chủ yếu của PVD gồm có huyết khối, viêm, chít hẹp hay tắc mạch máu. Trong đó:
     – Những bệnh liên quan đến động mạch: tắc động mạch, phình, bệnh Buerger, bệnh Raynaud, v.v…
     – Những bệnh liên quan đến tĩnh mạch: huyết khối, thuyên tắc phổi, viêm, giãn tĩnh mạch, v.v…
     Dưới đây, xin giới thiệu sơ nét 1 vài trong số các bệnh lý trên.

     1. Tắc động mạch:

Diagram of a diseased artery

      a) Nguyên nhân:
     Giống như động mạch vành, các động mạch ngoại biên có thể bị tắc do các mảng xơ vữa. Đó là những khối giống như sáp hình thành bên trong lòng mạch, có thành phần gồm cholesterol, chất béo, calci và fibrin (một yếu tố đông máu tự nhiên).
     Khi một mảng xơ vữa tích tụ dần trong lòng mạch đạt kích thước đủ lớn, nó sẽ gây cản trở lưu thông, khiến dòng máu chảy chậm lại, thậm chí tắc hoàn toàn. Tình trạng máu chảy chậm lại này làm cho tế bào không được cung cấp đủ oxy, còn gọi là thiếu máu nuôi. Nếu với động mạch vành, nó gây ra cơn nhồi máu cơ tim thì trên PVD, hậu quả của nó cũng nghiêm trọng không kém khi ảnh hưởng đến mạch máu não (gây đột quỵ). Còn ở chân, bệnh nhân sẽ cảm thấy rất đau và vọp bẻ.
     Những yếu tố nguy cơ hàng đầu cho mảng xơ vữa này là hút thuốc lá, tiểu đường, tăng huyết áp, cholesterol cao.

     b) Triệu chứng:
     
Tùy vào vị trí tắc, bệnh nhân có thể đau ở cẳng chân, đùi, hay vùng mông. Thông thường, cường độ đau tỉ lệ thuận với mức độ tắc. Trong những trường hợp nặng, ngón chân trở nên xanh tím, bàn chân lạnh, mạch yếu. Nghiêm trọng hơn nữa, mô thiếu máu sẽ bị hoại tử, khi đó cắt cụt là không thể tránh khỏi.
     Đôi khi, vọp bẻ xảy ra ở lúc bệnh nhân đi bộ. Càng hoạt động nhiều cơn đau càng tăng lên. Tình trạng này gọi là cơn đau cách hồi, tức là khi bệnh nhân đi một đoạn thì bị đau, nghỉ sẽ hết đau, nhưng đi tiếp thì lại đau nữa. Tuy nhiên, nhiệt độ lạnh và một vài loại thuốc cũng có thể gây đau chân tương tự.

     c) Chẩn đoán:
    
Trước hết, là dựa vào lâm sàng, với những triệu chứng đã nêu trên, thăm khám sẽ thấy mạch yếu hoặc mất ở khu vực đó.
     Cận lâm sáng hỗ trợ:
     – Siêu âm mạch máu.


     – Chụp mạch máu đồ: cho các trường hợp nặng mà nhiều khả năng phải thực hiện thủ thuật can thiệp thông qua catheter hoặc phẫu thuật.

 

     d) Điều trị:
    
Trong các trường hợp nhẹ, hướng xử trí là chỉ cần kiểm soát tốt tình trạng cơ thể với giảm cân, bỏ thuốc lá, tập thể dục thường xuyên theo sự hướng dẫn của bác sĩ.
     Thủ thuật can thiệp thông qua catheter (can thiệp nội mạch) như đặt stent, bóng… áp dụng cho những ca nặng.
     Ngoài ra, còn một thủ thuật nữa là phẫu thuật bắt cầu mạch máu, tức cho máu chảy vòng qua chỗ bị tắc. Bằng một đường rạch da chỗ bị tắc mạch, người bác sĩ sẽ lấy một mạch máu nhân tạo (hoặc của chính bệnh nhân) nối chỗ ở phía trên với phía dưới động mạch bị tắc. Như vậy, máu sẽ lưu thông “tắt” qua con đường mới, mà không bị cản trở nữa.

     2. Bệnh Buerger:

     a) Sơ lược:
    Nhiều bác sĩ thường ví von: “Như hình ảnh thuốc lá đang cháy dở, bàn tay/bàn chân của bệnh nhân sẽ bị đốt từ từ giống như chính điếu thuốc họ đang cầm”.
     Đây là một bệnh liên quan thói quen hút thuốc lá, gây sưng các mạch máu nhỏ và vừa (thường là động mạch) ở tay, chân dẫn tới lòng mạch bị thắt lại. Bệnh này tuy hiếm, nhưng thường xảy ra ở nam giới nhiều hơn, ở độ tuổi hút thuốc (20-40), minh chứng thêm cho mối liên quan giữa chúng.
     Hút thuốc lá luôn luôn gây co mạch ở tất cả mọi người. Tuy nhiên, đối với những ai có cơ địa mắc bệnh Buerger, mạch máu có xu hướng co thắt quá mức, khiến mô bị thiếu máu nuôi và hoại tử.

     b) Triệu chứng:
    
Thay đổi theo nhiều người, thường nhất là cảm giác ấn đau, sưng vùng mạch máu đó, theo sau là lạnh tay/chân. Đau cách hồi có thể xảy ra, vì bệnh có gây tắc động mạch. Những trường hợp nặng nhất, đầu chi bị hoại tử, và ngón tay, ngón chân hư cần phải được cắt bỏ.

     c) Xử trí:
    
Một khi đã bị bệnh Buerger, bệnh nhân phải hoàn toàn bỏ thuốc lá. Thông thường, sự hồi phục sẽ xảy ra nhanh chóng sau đó.

     3. Bệnh Raynaud:

     Bệnh thường xảy ra ở phụ nữ. Đây là một rối loạn tuần hoàn máu xảy ra ở đầu chi, các động mạch ngón tay/ngón chân co thắt quá mức khi họ tiếp xúc với nhiệt độ lạnh, bị stress tình cảm, hay thậm chí là hút thuốc.
     Đến nay, cơ chế gây bệnh vẫn chưa rõ. Có tác giả cho rằng đó là tác dụng phụ của tình trạng khác như bệnh lý mô liên kết, chấn thương, bệnh thần kinh.

     a) Triệu chứng:
    
Tê ngón tay ngón chân, cảm giác như kim chích, sau đó tái đi vì thiếu oxy. Nhưng sau đó, khi các mạch máu giãn ra lại, một số vùng lại trở nên đỏ. Một đợt tấn công như vậy thường kéo dài vài phút đến vài giờ.

     b) Xử trí: Bệnh nhân cần phải giữ ấm chi thường xuyên, bỏ thuốc lá, tránh nhiệt độ lạnh và đừng để sốc tình cảm. Ngoài ra, thuốc giảm đau hay thuốc chẹn kênh calci có thể được sử dụng.

     4. Viêm tĩnh mạch:

     Có 2 dạng viêm tĩnh mạch. Dạng thường nhất là sưng tĩnh mạch nông, thường ở chân. Dạng thứ hai là sưng tĩnh mạch ở sâu, trường hợp này hiếm hơn nhưng nặng.

     – Đối với dạng thứ nhất, vùng bị viêm sẽ đỏ và đau. Cơn đau này có thể chữa dễ dàng với xông hơi ấm, aspirin và thuốc kháng viêm.

     – Dạng thứ hai, tĩnh mạch viêm sẽ gây đau dữ dội hơn, có thể sốt. Scan dùng kỹ thuật y học hạt nhân, Doppler tĩnh mạch, hoặc một dụng cụ đặc biệt đo mức độ thay đổi thể tích bộ phận của cơ thể (plethysmography) giúp ta xác nhận tĩnh mạch sâu có viêm hay không. Dạng này nguy hiểm ở chỗ nó có khả năng gây ra huyết khối tĩnh mạch, thậm chí thuyên tắc phổi. Do đó, một bệnh nhân bị tình trạng này sẽ được điều trị theo dõi 1 đợt 7 ngày với thuốc chống đông hay làm loãng máu. Trong thời gian này, bác sĩ thường xuyên kiểm tra dấu hiệu thuyên tắc phổi. Sau đó, bệnh nhân sẽ được cho điều trị dài hạn bằng việc uống thuốc chống đông.

     5. Giãn tĩnh mạch:

     Tĩnh mạch giãn khi nó phồng lên, tím và thấy được dưới da. Nguyên nhân do tổn thưởng những tĩnh mạch nông, làm chậm dòng máu chảy, hoặc liên quan đến suy chức năng van. Thông thường, van tĩnh mạch là để giúp máu chỉ đi 1 chiều về tim mà không ngược lại.
     Khi một trong hai nguyên nhân trên xảy ra, máu ứ đọng lại trong tĩnh mạch, gây nên tình trạng giãn. Bệnh xảy ra ở nữ nhiều hơn nam, tỉ lệ cao hơn đối với những ai có tiền căn gia đình người thân bị giãn tĩnh mạch. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai cũng có nhiều nguy cơ giãn tĩnh mạch do sự thay đổi nội tiết tố và sức nặng em bé. Tương tự, người béo phì mức độ nặng và những người đứng lâu cũng vậy.

     a) Triệu chứng:
    
Dễ thấy nhất là dấu nổi tĩnh mạch ngoằn ngoèo, xanh tím trên da, giống rắn bò. Xung quanh chỗ giãn có thể thấy mạng lưới mao mạch “mạng nhện” hiện lên có màu xanh. Bệnh nhân cảm giác đau, châm chích ở chân. Mắt cá chân thường phù vào cuối ngày. Nhìn chung, nguyên nhân khiến người ta đi khám nhiều nhất là sự mất thẩm mỹ.

     b) Điều trị:
    
Trong giai đoạn sớm, mang vớ tĩnh mạch giúp giảm đau và bớt phồng, nhưng không trị tiệt căn được bệnh.
     Tiêm dung dịch muối hòa tan vào tĩnh mạch góp phần cho nó co rút lại, bớt giãn. Một loại dung dịch đặc biệt khác có thể được sử dụng, nó gây viêm thành tĩnh mạch, rồi khi ta dùng băng quấn chân chặt lại, các thành tĩnh mạch sẽ tiếp xúc nhau. Những vết sẹo hình thành sau đó giúp kết nối các thành này lại.
     Một vài dạng giãn tĩnh mạch và mạng lưới “mạng nhện” điều trị được bằng laser: nhiệt tỏa ra gây phá hủy tĩnh mạch bị bệnh, làm nó biến mất và khóa lại.
     Cuối cùng là biện pháp mổ: Tĩnh mạch được treo cố định vào một chỗ nào đó trong vùng xung quanh, đoạn bị giãn cắt bỏ đi. Cơ thể sẽ tự phục hồi đường đi mới cho máu lưu thông.

     Nguồn:

     http://www.texasheartinstitute.org/HIC/Topics/Cond/pvd.cfm#phleb

Read Full Post »

Cục máu đông là gì?

Máu là một chất lỏng chảy trong mạch máu. Nó chuyển động liên tục tới tim, bơm máu qua động mạch đến các cơ quan khác nhau và tế bào của cơ thể. Máu được trở về tim bằng tĩnh mạch. Tĩnh mạch bị ép khi các cơ trong cơ thể  đẩy máu trở lại tim.

Đông máu là một cơ chế quan trọng để giúp cơ thể sửa chữa các mạch máu bị tổn thương. Máu bao gồm:

  • Hồng cầu có chứa hemoglobin mang ôxy đến các tế bào và loại bỏ carbon dioxide (sản phẩm thải của quá trình trao đổi chất)
  • Bạch cầu
  • tiểu cầu là một phần của quá trình đông máu của cơ thể
  • Huyết tương là  chất lỏng, protein quan trọng cho các chức năng cơ thể.

Hình thành cục máu đông là một cơ chế phức tạp. Nếu lớp niêm mạc của các mạch máu bị  tổn thương, tiểu cầu được tập trung vào các vùng bị thương để tạo thành một nút tiểu cầu.Những tiểu cầu mới hoạt hóa dòng thác đông máu, bằng cách sử dụng một loạt các yếu tố đông máu được sản xuất bởi cơ thể. Cuối cùng, fibrin được hình thành để tạo thành mộtb lưới.

Thuật ngữ y tế cho một cục máu đông là một huyết khối. Khi huyết khối được hình thành như là một phần của một quá trình sửa chữa bình thường của cơ thể, có rất ít ảnh hưởng đến cơ thể.  Khi một huyết khối  hình thành khi nó là không cần thiết, điều này có thể gây ra những hậu quả  đáng kể.

Một cục máu đông trông như thế nào?

Nguyên nhân gây ra các cục máu đông?

Cục máu đông hình thành khi có tổn thương niêm mạc của mạch máu, động mạch hoặc tĩnh mạch. Tổn thương có thể được rõ ràng, chẳng hạn như rách, hoặc có thể xảy ra vào mức độ vi thể.

Huyết khối tĩnh mạch hoặc cục máu đông trong tĩnh mạch xảy ra khi một người trở ít di chuyển và cơ không được co bóp để đẩy máu trở về tim. Máu trì trệ bắt đầu hình thành cục máu đông nhỏ dọc theo các thành của tĩnh mạch. Cục máu đông ban đầu này có thể phát triển một phần hoặc hoàn toàn hấp thụ hoặc làm tắc tĩnh mạch và ngăn ngừa máu trở về tim. Tương tự với quá trình này là một dòng sông di chuyển chậm. Theo thời gian, cỏ dại và các loại tảo bắt đầu tích tụ dọc theo bờ sông, nơi nước chảy chậm hơn. Dần dần, như cỏ dại bắt đầu phát triển, nó bắt đầu xâm nhập vào trung tâm của dòng sông bởi vì nó có thể chịu được áp lực của dòng nước.

Huyết khối động mạch (cục máu đông trong động mạch) xảy ra bởi một cơ chế khác . Đối với những người có bệnh xơ vữa động mạch, các mảng bám hình thành dọc theo lớp màng của động mạch và phát triển để làm chít hẹp . Quá trình bệnh có thể gây ra cơn đau tim, đột quỵ , bệnh động mạch ngoại vi . Nếu một mảng  vỡ, một cục máu đông có thể hình thành ở các vị trí vỡ đó và có thể hoàn toàn hoặc một phần hấp thụ lưu lượng máu vào thời điểm đó.

Các yếu tố nguy cơ cục máu đông là gì?

Các yếu tố nguy cơ cục máu đông động mạch là những người phổ biến cho tất cả các bệnh gây ra thu hẹp các mạch máu, hình thành mảng bám cholesterol, và vỡ mảng bám.

  • Cao huyết áp
  • Cholesterol cao
  • Bệnh tiểu đường
  • Hút thuốc lá
  • Di truyền

Cục máu đông tĩnh mạch được hình thành do một trong hai lý do chính: 1) ít di chuyển, cử đông và 2) các lỗi di truyền trong cơ chế đông máu.

  1. Tình trạng ít cử động: Thông thường nhất, khi cơ thể ngừng di chuyển, nguy cơ cục máu đông máu tăng, kể từ khi chuyển động cơ bắp là cần thiết để bơm máu về phía tim. Ứ đọng máu trong tĩnh mạch dễ bị cục máu đông.
  • Điều này có thể xảy ra khi một người được nhập viện hoặc nằm liệt giường sau khi bị bệnh hoặc phẫu thuật.
  • Nó cũng có thể xảy ra với các chuyến đi dài (chẳng hạn như trong xe hơi, xe lửa hoặc máy bay)
  • Chấn thương chỉnh hình có nguy cơ.
  • Mang thai là một yếu tố nguy cơ hình thành cục máu đông ở chân và khung xương chậu, kể từ khi tử cung đang phát triển có thể làm chậm lưu lượng máu trở về tim đến một mức độ đầy đủ rằng các cục máu đông có thể hình thành.
  1. Lỗi di truyền trong cơ chế đông máu: Có thể có một lỗi di truyền hoặc bẩm sinh trong cơ chế đông máu, làm cho một người  nhiều cục máu đông (hypercoagulable )  và nguy cơ hình thành cục máu đông.

Các triệu chứng của cục máu đông là gì?

Cục máu đông tĩnh mạch không cho phép máu trở về tim và các triệu chứng xảy ra vì điều này có hiệu lực xây đập. Hầu hết thường xảy ra ở chân hoặc cánh tay, các triệu chứng bao gồm:

  • sưng,
  • ấm
  • đỏ, và
  • đau

Các cục đông máu động mạch không cho phép máu đến khu vực bị ảnh hưởng. Mô cơ thể bị thiếu máu và ôxy bắt đầu hoại tử và trở nên thiếu máu cục bộ

  • Đau là triệu chứng ban đầu của thiếu máu cục bộ, hoặc thiếu ôxy do mất nguồn cung cấp máu.
  • Các triệu chứng khác phụ thuộc vào vị trí của cục máu đông, và thường tiểu biểu sẽ là một mất chức năng.
  •  Trong một cánh tay hoặc chân đau,chân tay có thể xuất hiện màu trắng, và yếu chi,mất cảm giác, hoặc tê liệt có thể xảy ra.
  • Nếu việc cung cấp máu bị mất đến một khu vực của đường ruột, đau dữ dội, có thể là tiêu chảy có máu .

Các cục máu đông được chẩn đoán như thế nào?

Bước đầu tiên trong việc đưa ra các chẩn đoán của một cục máu đông là bệnh sử. Các cục máu đông không gây ra vấn đều.nếu cục máu đông được chú ý, bệnh sử có thể khai thác để khám hiện các yếu tố nguy cơ hoặc các tình huống có thể đưa bệnh nhân có nguy cơ tạo thành một cục máu đông.

Cục máu đông tĩnh mạch  thường phát triển chậm với một bắt đầu  sưng, đau, và sự đổi màu. Các triệu chứng của huyết khối tĩnh mạch thường sẽ tiến triển thời gian dài.

Huyết khối động mạch xảy ra như là một trường hợp cấp tính. Mô cần oxy ngay lập tức, và mất nguồn cung cấp máu tạo ra một tình huống trong đó các triệu chứng bắt đầu ngay lập tức.

Có thể có triệu chứng trước tắc nghẽn động mạch cấp tính, có thể là dấu hiệu cảnh báo tắc tương lai đầy đủ tiềm năng của các mạch máu.

  • Bệnh nhân với một cơn đau tim cấp tính (nhồi máu cơ tim) có thể trải qua cơn đau thắt ngực trong  ngày và tuần trước khi cơn đau tim.
  • Bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại vi có thể có đau khi đi bộ,  có thể đi trước một cơn đột quỵ.

Kiểm tra vật lý có thể hỗ trợ trong việc cung cấp thông tin bổ sung có thể làm tăng sự nghi ngờ cho một cục máu đông.

  • Tĩnh mạch huyết khối có thể gây ra sưng một điểm xa nhất. Nó có thể là đỏ, ấm, và đau, đôi khi  khó khăn để phân biệt với viêm mô tế bào hoặc nhiễm trùng . Nếu có là mối quan tâm về một thuyên tắc phổi, các bác sĩ có thể kiểm tra phổi, lắng nghe âm thanh bất thường gây ra bởi vùng của mô phổi bị viêm.
  • Triệu chứng động mạch huyết khối  rõ hơn rất nhiều. Nếu chân hay cánh tay thị huyết khối , các mô có thể có màu trắng do thiếu nguồn cung cấp máu. Đồng thời, cơ quan đó lạnh hơn và có thể là mất cảm giác. Bệnh nhân có thể được quằn quại trong đau đớn.

Huyết khối động mạch cũng là nguyên nhân của cơn đau tim (nhồi máu cơ tim) và mạch máu não (tai nạn) đột quỵ và các triệu chứng liên quan.

@nguồn :http://www.medicinenet.com/blood_clots/article.htm

Read Full Post »

HỘI CHỨNG LOEYS-DIETZ LÀ GÌ?
Hội chứng Loeys-Dietz là một rối loạn di truyền có ảnh hưởng đến mô liên kết trong cơ thể. Dạng rối loạn này lần đầu tiên được quan sát và mô tả vào năm 2005 bởi bác sĩ Bart Loeys và bác sĩ Hal Dietz tại trường đại học y Johns Hopkins.
Bệnh nhân mắc hội chứng này biểu hiện một loạt các triệu chứng bệnh của hệ thống da, cơ xương và hệ tim mạch.
Hội chứng Loeys-Dietz thể hiện theo nhiều triệu chứng lâm sàng khác nhau, do đó hai người cùng mắc bệnh không bao giờ có tất cả triệu chứng giống nhau.

PHÂN LOẠI
Có ba loại hội chứng Loeys-Dietz, được phân biệt bởi các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng.
– loại I: được đặc trưng bởi bệnh cảnh phình động mạch chủ, là mạch máu lớn vận chuyển máu từ tim để phần còn lại của cơ thể. Động mạch chủ có thể bị suy yếu và giãn, gây ra chứng phình động mạch. Thành  động mạch chủ giãn cũng có thể dẫn đến  hiện tượng rách các lớp của thành động mạch chủ đột ngột ( chứng bóc tách động mạch chủ). loại I là phổ biến nhất, chiếm 75% của tất cả các trường hợp

– loại II có các triệu chứng tương tự với loại I, chẳng hạn như phình  động mạch chủ và các động mạch khác. Nhưng những triệu chứng còn lại của loại I, chẳng hạn như triệu chứng ở xương, thường ít nghiêm trọng hơn hoặc không có ở loại II. Những người có hội chứng Loeys-Dietz loại II còn có bất thường về hệ da. Loại II chiếm gần 25% trường hợp

– loại III cũng có chứng phình động mạch chủ, các động mạch khác và biểu hiện đau khớp (viêm xương khớp) vào tuổi trung niên. loại III là dạng hiếm nhất, với khoảng 45 trường hợp được báo cáo trong các tài liệu khoa học.

TRIỆU CHỨNG
Đầu mặt

– xương gò má phẳng
 – đôi mắt chếch
– chứng dính liền sớm khớp sọ

– củng mạc có màu trắng xanh
– cằm nhỏ và / hoặc cằm lẹm

Hệ Xương Khớp
– ngón tay và ngón chân dài
– dị tật bẩm sinh ở chân
– chứng gù vẹo cột sống
– đốt sống cổ ngay dưới hộp sọ không vững chắc

– khớp lỏng lẻo

– ngực hình phễu (biến dạng lồng ngực làm xương ức và xương ngực phát triển vào trong) / ngực ức gà (biến dạng lồng ngực đẩy xương ức và xương ngực ra trước)
 
Da
– da mỏng và mịn

– dễ bị bầm tím

– vết sẹo rộng
– thoát vị
 
Hệ tim mạch
– dị tật tim bẩm sinh, bao gồm bệnh lý còn ống động mạch (PDA), thông liên nhĩ hoặc thông liên thất (ASD / VSD) và van động mạch chủ chỉ có 2 lá (BAV)
 
Triệu chứng khác
– dị tật ở các động mạch và ống tiêu hóa (đang được nghiên cứu)
– các tạng rỗng như tử cung, ruột và lách dễ bị vỡ

CHẨN ĐOÁN
Người bác sĩ phải kết hợp các triệu chứng lâm sàng với nhau để chẩn đoán xác định hội chứng Loeys-Dietz.
bệnh nhân được khuyên rằng nếu có nghi ngờ bản thân mắc hội chứng, nên đến tư vấn các nhà di truyền học- là người chuyên gia về bệnh lý rối loạn mô liên kết. Trong một cuộc tư vấn, bệnh sử và tiền căn gia đình phải được khai thác rõ. Điều này, cùng với kiểm tra sức khỏe toàn diện, sẽ giúp các bác sĩ đánh giá các triệu chứng liên quan đến xương, sọ mặt và da thường biểu hiện ở bệnh nhân mắc bệnh.

Cận lâm sàng
siêu âm tim được thực hiện để đánh giá liệu có chứng phình động mạch chủ và / hoặc các dị tật tim khác phù hợp với chẩn đoán hay không. Một buổi tham vấn với bác sĩ tim mạch có thể cần thiết để giúp giải thích những triệu chứng bất thường ở tim.

Bác sĩ cũng có thể đề nghị chụp động mạch khắp cơ thể, có thể là chụp CT với chất  cản quang hoặc MRI cản quang của toàn bộ hệ thống động mạch (đầu, cổ, ngực, chậu và bụng). Chẩn đoán hình ảnh sẽ phát hiện chứng phình động mạch được tìm thấy ở các động mạch khác. Dựng lại ảnh ba chiều (3D) để kiểm tra độ uốn khúc của động mạch, thường thấy ở các bệnh nhân mắc hội chứng Loeys-Dietz . Tình trạng uốn khúc  thường thấy ở động mạch cổ. Phát hiện này thường không gây ra mối lo ngại nhưng cung cấp thêm bằng chứng cho việc chẩn đoán .

hình ảnh MDCT của một bé gái 15 tháng tuổi mắc hội chứng Loeys-Dietz, thể hiện gốc động mạch chủ phình to ( mũi tên ngắn), động mạch cảnh bên phải uốc khúc ( mũi tên dài)

xét nghiệm sự đột biến của gen di truyền (đột biến gen) là TGFBR2 và TGFBR1- gen  hiện diện ở bệnh nhân có hội chứng Loeys-Dietz. Đó là thử nghiệm phải được thông qua bởi nhà di truyền học, họ có thể giải thích cặn kẽ và chuyển tải kết quả thử nghiệm. Nếu đột biến gen được tìm thấy ở một đứa trẻ, đôi khi nó được khuyến khích để kiểm tra các bậc cha mẹ đối có đột biến tương tự hay không để cung cấp thông tin chính xác nguy cơ tái phát.

ĐIỀU TRỊ
sự điều trị hiệu quả nhất cần sự phối hợp của đội ngũ các chuyên gia đa ngành bao gồm một nhà di truyền y học, bác sĩ chuyên khoa tim, bác sĩ nhãn khoa, bác sĩ chỉnh hình và bác sĩ ngoại tim – lồng ngực.
–  áp lực tác động lên động mạch chủ (động mạch lớn nhất xuất phát từ tim) có thể được kiểm soát bởi các loại thuốc trị tăng huyết áp để giảm bớt áp lực cho các động mạch lớn của cơ thể bằng cách giảm nhịp tim và huyết áp.
 – mỗi năm bệnh nhân nên thường xuyên đến cơ sở y tế theo dõi tình trạng động mạch chủ và các động mạch khác thông qua siêu âm tim, CT hoặc MRI với chất cản quang ở đầu, cổ, ngực, bụng và chậu để phát hiện và theo dõi sự hình thành chứng phình động mạch và / hoặc nên phẫu thuật
– Phẫu thuật mạch máu là một lựa chọn điều trị được khuyến cáo rộng rãi như là một phẫu thuật phòng ngừa cho các bệnh nhân có động mạch chủ phình to với tốc độ nhanh hoặc với những người  tiền căn gia đình có bóc tách động mạch. Thay thế động mạch chủ là phẫu thuật mạch máu thường được thực hiện ở các bệnh nhân có hội chứng  Loeys-Dietz  và tỉ lệ thành công cao.


– bệnh nhân  có thể cần phải phẫu thuật chỉnh hình hoặc phẫu thuật can thiệp khác như chỉnh vẹo cột sống, nẹp chỉnh hình / phẫu thuật dị tật bàn chân, dây giữ cho trật khớp hông bẩm sinh. Các phẫu thuật lồng ngực thường chủ yếu nhằm mục đích thẩm mĩ.

Nguồn:

http://www.loeysdietz.org/medical.php

http://www.medicinenet.com/loeys-dietz_syndrome/article.htm#tocb

http://ghr.nlm.nih.gov/condition/loeys-dietz-syndrome

http://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK1133/

Hình ảnh:

http://www.rjmatthewsmd.com/Definitions/img/Figure_2aneurysm_syndromes.jpg

http://www.ajronline.org/content/189/1/W29/F5.medium.gif

http://www.ojrd.com/content/figures/1750-1172-4-24-1-l.jpg

https://lh6.googleusercontent.com/-xkn5jyJ7v-U/T8nL07dpa4I/AAAAAAAAANA/ADMeXbsg2u0/s200/S757.S0003497506022442.gr1%255B1%255D.png

http://www.thedoctorstv.com/files/Image/2139/D2139_37.jpg

Read Full Post »

Older Posts »