Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Đại cương’ Category

Giới thiệu

Bệnh lý võng mạc Purtscher là một bệnh xuất huyết và tắc nghẽn mạch máu, năm 1912, lần đầu tiên được mô tả như là một hội chứng mù đột ngột liên quan tới chấn thương đầu nghiêm trọng.  Những bệnh nhân có mảng trắng và đốm xuất huyết ở võng mạc có liên quan với việc mất thị lực trầm trọng. Kể từ khi được mô tả lần đầu, bệnh võng mạc Purtscher thường kết hợp với tổn thương do chấn thương,chấn thương ngực chủ yếu là chấn thương ngực, chấn thương đầu và nhiều bệnh không do chấn thương khác.

 Photobucket
 Photobucket

Đặc điểm đáy mắt của bệnh lý võng mạc Purtscher. Hình ảnh bông-len bao quanh điểm mù nơi  dây thần kinh thị giác đi qua của một ca sau khi chấn thương ngực

 Photobucket

 Photobucket

Bệnh võng mạc Purtscher được tìm gặp kèm những bệnh lý khác, bao gồm viêm tụy cấp , thuyên tắc do mỡ, thuyên tắc ối, tiền sản giật, tán huyết, tăng men gan, và hội chứng tiểu cầu thấp (HELLP) và bệnh viêm mạch, chẳng hạn như lupus.

 Sinh lý bệnh
Những phát hiện ban đầu của sang thương trăng trong và sau võng mạc liên quan đến xuất huyết được cho là nguyên nhân gây ra sự thoát mạch bạch huyết từ chấn thương.  Những tổn thương này được gọi là Purtscher flecken (nhồi máu lớn hơn của các giường mao mạch võng mạc) và điểm bông len (nhồi máu rất ít ở lớp sợi thần kinh). Rò rỉ trong bệnh võng mạc Purtscher gợi ý rằng một tổn thương tế bào nội mô cấp gây ra bởi chấn thương, có lẽ dẫn đến những tắc nghẽn mạch máu trong võng mạc

 Sinh lý bệnh chính xác vẫn còn tranh cãi, và nhiều cơ chế khác nhau đã được đề xuất.
Cơ chế được chấp nhận nhất là leukoembolization nghĩa là nguyên nhân gây tắc động mạch và nhồi máu thành mao mạch..Bạch cầu tập trung lai, được gây ra bởi bổ thể C5a, được cho là cơ chế có khả năng nhất của thuyên tắc do chấn thương, viêm tụy cấp tính, và các bệnh viêm mạch.

Cơ chế khác có thể có của thuyên tắc mạch do chất béo trong các trường hợp gãy xương dài và có thể là viêm tụy gây thiếu enzyme tiêu hóa chất béo, thuyên tắc ối trong và sau khi sinh, tắc khí đạo chấn thương ngực ép, và tập trung bạch cầu hạt do kích hoạt bổ thể. . Những đề xuất các cơ chế khác của tắc mạch máu bao gồm co thắt mạch kết quả từ một sự gia tăng áp lực cấp tính tĩnh mạch do chấn thương ngực ép hoặc chấn thương đầu và tổn thương tế bào nội mô do tang áp lực nội mạch cấp.

 Dịch tể
Tỷ lệ tử vong / bệnh suất. Biểu hiện song phương được khảo sát phổ biến nhất, những phát hiện đơn phương đã được báo cáo
Giảm thị lực xảy ra ở  mắt bị tổn thưởng, thường trong khoảng 20/200 ca.. Tầm nhìn thường cải thiện trong vài tháng từ 20/30 đến 20/200, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của những tổn thương võng mạc phát hiện được.  Báo cáo trường hợp bệnh lý võng mạc Purtscher liên quan đến tiền sản giật đã cho kết quả giảm thị lực trong hơn một nửa những bệnh nhân này

 Nguồn
http://emedicine.medscape.com/article/1225431-overview

Read Full Post »

NGUYÊN NHÂN ĐAU NGỰC

Nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim gồm những nguyên nhân về mạch vành của tim. Bệnh tim có thể gây ra do tích tụ cholesterol trong động mạch vành ( xơ vữa động mạch ), hay cục đông máu, hoặc sự co thắt của mạch là ảnh hưởng đến cung cấp máu cho tim.
Yếu tố nguy cơ của nhồi máu cơ tim là :
                -Tăng huyết áp
                -Tiểu đường
                -Nghiện thuốc
                -Tăng cholesterol máu
                -Tiền căn gia đình nhồi máu cơ tim dưới 60 tuổi, Tiền căn đã có những lần đau tương tự, nam giới.
                -Béo phì
                – Phụ nữ mãn kinh có nguy cơ cao hơn phụ nữ tiền mãn kinh. Nguyên nhân là do cơ thể giảm tiết hóc mon estrogen ở tuổi mãn kinh. Trước đây , ta sử dụng liệu pháp bổ sung hoóc – môn ( duy trì estrogen sau khi mãn kinh, hoặc HRT ). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu gần đây về HRT khuyên không nên điều trị lâu dài cho hầu hết phụ.
                -Sử dụng cocaine và một số chất kích thich khác

Đau thắt ngực
                –
Cơn đau thắt ngực nguyên nhân có thể do sự co thắt, thu hẹp, hoặc tắc nghẽn một phần của động mạch cung cấp máu cho tim.

                –
Thường gặp nhất là bệnh lý mạch vành, sự xuất hiện cục máu đông hoặc mảng xơ vữa bên trong mạch máu ( xơ vữa động mạch ) làm giảm lưu lượng máu nhưng không hoàn toàn tắc nghẹt mạch máu.
                –
Yếu tố khởi phát cơn đau thắt ngực có thể là: sau khi tập thể dục hoặc sau gắng sức, căng thẳng tinh thần, hoặc ngoại tâm thu ( rối loạn nhịp tim) làm tim đập nhanh.

Bóc tách động mạch chủ
                –
Bóc tách động mạch chủ có thể làm tổn thương lớp nội mạc của động mạch chủ.
                -Yếu tố nguy cơ gồm: cao huyết áp, vấn đề về mô liên kết, sử dụng côcain, lớn tuổi, mang thai, bệnh tim bẩm sinh, và phẩu thuật bắc cầu ở tim.
                -Nam giới là có nguy cơ cao hơn nữ giới.
                – Bệnh tương tự là phình động mạch chủ. Đây là sự mở rộng chu vi của động mạch chủ và có nguy cơ vỡ, gây ra đau và chảy máu ồ ạt. Phình mạch có thể xảy ra ở động mạch chủ ngực hoặc bụng.

Thuyên tắc phổi
Yếu tố nguy cơ gồm:
                -Lối sống ít vận động
                -Béo phì
                -Bất động thời gian dài
                -Gãy xương chân
                -Mang thai
                -Ung thư
                -Có tiền căn bản thân và gia đình về RL đông máu
                -Loạn nhịp tim
                -Nhồi máu cơ tim
                -Suy tim sung huyết
                -Phụ nữ dùng thuốc tránh thai và hút thuốc có nguy cơ cao hơn phụ nữ chỉ có một hoặc chẳng có yếu tố trên (nhất là trên 35 tuổi ).

Tràn khí màng phổi tự phát
Tràn khí màng phổi tự phát (xẹp phổi) xảy ra khi mất cân bằng áp suất giữa khoang màng phổi và khí quyển.
                -Chấn thương ngực xuyên qua phổi là nguyên nhân thường gặp nhất này bệnh.
                -Chấn thương này gồm tai nạn xe, ngã mạnh, vết thương do đạn bắn hoặc dao đâm, hoặc phẫu thuật.
                -Một số người có thể trang ốm, cao dễ bị tràn khí màng phổi tự phát do nhu mô phổi kéo căng và hình thành bóng khí. Những bóng khí này rất dễ vỡ thậm chí chỉ cần ho hoặc hắt hơi cũng gây vỡ.
                -Yếu tố nguy cơ khác bao gồm viêm phổi đii kèm với AIDS, khí phế thủng, bệnh suyễn nặng, xơ hoá thành phế nang, bệnh ung thư, và hít cần sa và hít cocain

Thủng tạng
Thủng tạng có thể là thương tổn trực tiếp hoặc gián tiếp. Kích thích đến cơ hoành trong trường hợp này đến từ bên dưới ngực. Cơ hoành là cơ hỗ trợ hô hấp. Cơ này bám vào xương sườn và phân cách ngực với bụng. Bất kỳ kích thích nào đến cơ hoành, thậm chí từ dưới ổ bụng, có thể làm đau ngực.
Yếu tố nguy cơ không lien quan đến chấn thương:
                -Viêm loét tạng rỗng
                -Nôn kéo dài hoặc nôn mạnh
                -Nuốt dị vật
                -Ung thư
                -Viêm ruột thừa
                -Sử dụng Steroid thời gian dài
                -Viêm túi mật
                -Sỏi mật
                -AIDS

Viêm màng ngoài tim
Viêm màng ngoài tim có thể do nhiễm vi – rút, nhiễm khuẩn, bệnh ung thư, bênh mô liên kết, dược phẩm, liệu pháp xạ trị, và suy thận mãn tính.
Một biến chứng nguy hiểm đến tính mạng của viêm màng ngoài tim là chèn ép tim (tràn dịch màng ngoài tim):
                -Chèn ép tim là tích tụ dịch quanh tim. Dịch này ngăn cản tim bơm máu vào cơ thể.
                -Triệu chứng của chèn ép tim bao gồm khó thở đột ngột, ngất, và đau ngực.

Viêm phổi
Viêm phổi có thể do virus, vi khuẩn  hoặc nấm ở phổi

Liên quan tới thực quản
Đau ngực bắt nguồn từ thực quản có thể có nhiều nguyên nhân:
­-Trào ngược a – xít ( GERD ) có thể gây ra do các yếu tố làm giảm áp suất phần dưới của thực quản, giảm nhu động của thực quản, hoặc đói kéo dài . Bệnh này có thể là gây ra bởi :
                +Tiêu hóa thức ăn nhiều chất béo
                +Sử dụng nicotin
                +uống rượu
                +Caffeine, mang thai
                +Một số loại thuốc (Natri, thuốc ức chế kênh Ca, thuốc kháng choline, hoc mon estrogen progesterone)
                +Tiểu đường
                +Xơ cứng bì
-Viêm thực quản có thể gây ra do nấm men, nấm, vi – rút, vi khuẩn, hoặc kích thích từ dược phẩm.
– Co thắt thực quản là do tăng co bóp, hoặc không phối hợp tốt của các lớp cơ trơn của thực quản. Sự co thắt có thể do rối loạn cảm xúc (nóng giận, lo lắng)  hoặc nuốt dung dịch rất nóng hay rất lạnh.

 

TRIỆU CHỨNG ĐAU NGỰC 

Triệu chứng của nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim điển hình xảy ra ở bên trong và  giữa ngực trái và cũng có thể lan sang vai trái, cánh tay trái, hàm, dạ dày, hoặc lưng.
                – Một số triệu chứng khác như khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, và nôn.
                -Triệu chứng thay đổi tùy theo từng người.
                – Triệu chứng không điển hình bao gồm :
                +lan đến cổ, hàm, vai, phần trên lưng, khó chịu vùng bụng,
                +khó thở,
                +Buồn nôn, nôn
                +Đau bụng
                +Ợ nóng
                +Vã mồ hôi
                +Nhạy cảm với ánh sang
                +Chóng mặt
                +Mệt

Triệu chứng đau thắt ngực
Cơn đau thắt ngực giống nhồi máu cơ tim nhưng xảy ra sau gắng sức hoặc tập thể dục và giảm đau bằng nghỉ ngơi hoặc nitroglycerin.
                -Cơn đau thắt ngực đe dọa tính mạng bệnh nhân hơn khi cơn đau xảy ra lúc nghỉ ngơi, không tăng về tần số hoặc cường độ, hoặc không đáp ứng với ít nhất 3 viên nén nitroglycerin sau 5 phút.
                -Đây được gọi là cơn đau thắt ngực không ổn định, có thể là dấu hiệu cảnh báo về cơn nhồi máu cơ tim xắp xảy ra

Triệu chứng bóc tách động mạch chủ
Đau ngực liên quan đến bóc tách động mạch chủ xảy ra đột ngột và được miêu tả như là ” xé ” hoặc ” chảy nước mắt. “
                –
Đau có thể lan đến lưng hoặc giữa xương vai.
                –
Vì động mạch chủ cung cấp máu cho khắp cơ thể, triệu chứng cũng có thể bao gồm :
                    +Có kiểu đau như đau thắt ngực
                    +Khó thở
                    +ngất
                    +đau bụng
                    +dấu hiệu dột quỵ

Triệu chứng của thuyên tắc phổi gồm:
                – khó thở đột ngột
                – đau nhói giữa ngực, tăng với hít sâu.
                -thở nhanh,

Triệu chứng của tràn khí màng phổi bao gồm :
                –
khó thở đột ngột,

                –
đau ngực dữ dội,
                –
nhịp tim nhanh
                -hoa mắt,

                –
choáng váng, hoặc
                –
ngất xỉu.

Triệu chứng thủng tang
Tang thủng bất ngờ biểu hiện đau dữ dội bụng, ngực, có thể có đau lưng. Đau bụng có thể tăng khi chuyển động hoặc khi thở, Sờ nhận thấy bụng cứng như gỗ, đề kháng thành

Triệu chứng viêm màng ngoài tim
Đau do viêm màng ngoài tim thường được mô tả như là đau như dao đâm hoặc đau nhói giữa ngực, tệ hơn khi hít sâu.

                –
Triệu chứng có thể giống với cơ đau thắt ngực, vì nó có thể lan sang lưng bên trái hoặc vai.
                –
Phân biệt là đau tang khi nằm phẳng và giảm đau bằng cách ngồi khom lung về phía trước. Vì khi nằm thẳng, dich viêm tiếp xúc trực tiếp với tim và gây ra đau. Khi chồm về phía trước, dịch viêm dồn vào khoang giữa màng ngoài tim và tim.
                –
Sốt, lạnh run, khó thở, hoặc đau đớn khi nuốt ngay trước phát triển viêm màng ngoài tim.

Triệu chứng hở van hai lá
Hở van hai lá thường không có triệu chứng, nhưng một vài người có triệu chứng đánh trong ngực ( cảm giác nhịp tim nhanh hoặc mạnh) và đau ngực.
                – Đau ngực kết hợp bị hở van hai lá khác với cơn đau thắt ngực điển hình trong nó là đau nhói, không lan, và không liên quan đến gắng sức.

               
-Triệu chứng khác bao gồm: mệt mỏi, choáng váng, và khó thở.
                -Có các biến chứng nhiễm trùng của van tim, máu trào ngược lên van hai lá ( dòng máu không bình thường trong buồng tim ), và nhịp tim bất thường, hiếm khi gây ra đột tử.

Triệu chứng viêm phổi
Đau ngực của viêm phổi xảy ra khi ho kéo dài hoặc mạnh.

                –
thường đau một bên ngực và tang khi ho.
                –
triệu chứng khác kết hợp bao gồm sốt, ho ra chất nhầy ( đàm ), và khó thở.

Triệu chứng về bệnh lý thực quản
Với đau ngực bắt nguồn từ thực quản, triệu chứng tùy vào bệnh lý.

Triệu chứng bệnh trào ngược dạ dày – thực quản ( GERD ) bao gồm :
                +ợ chua
                +khó nuốt
                +tiết quá nhiều nước bọt
                +khó chịu ở ngực
                +Cảm giác nặng ngực
                +đau siết nở giực giữa.
                +Có thể cảm thấy không thoải mái và kèm: ra mồ hôi nhiều, xanh xao, buồn nôn, và ói.
                
+triệu chứng khác bao gồm : đau họng, có vị chua đắng ở miệng và họng, khan giọng, ho khan
                +Đau do GERD thường giảm bằng trung hòa acid
-Triệu chứng viêm thực quản bao gồm: khó nuốt, nuốt đau, hoặc triệu chứng của GERD. Đau ngực bất ngờ và không giảm  bằng trung hoà acid
-Đau của co thắt thực quản thường không liên tục và âm ỉ. Nó nằm ở giữa ngực và có thể lan ra đến phía sau cổ, hoặc vai.

 

Nguồn: 

http://www.emedicinehealth.com/chest_pain/page2_em.htm#Chest Pain Causes

 

Read Full Post »

SƠ LƯỢC PHƯƠNG PHÁP NỘI SOI CHUẨN ĐOÁN
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

I.Nội soi ổ bụng chuẩn đoán là gì?

Nội soi ổ bụng chuẩn đoán là quá trình mà các bác sĩ phẫu thuật sử dụng để xem cơ quan sinh sản của phụ nữ. Một cái ống nội soi,giống như là kính thiên văn được đặt xuyên qua một vết rạch nhỏ ở bụng. Sử dụng ống nội soi, các bác sĩ có thể nhìn một cách trực tiếp bên ngoài của tử cung, buồng trứng, ống dẫn trứng,và các cơ quan lân cận.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Nội soi ổ bụng thường được đề nghị khi các xét nghiệm chuẩn đoán khác như siêu âm, X-Quang mà không thể xác nhận nguyên nhân của tình trạng này.

Bác sĩ có thể sử dụng nội soi ổ bụng để:

Tìm nguyên nhân đau ở vùng chậu và vùng bụng.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Kiểm tra một khối mô

Xác định lại bệnh lạc nội mạc tử cung và viêm khung chậu

Tìm tắc nghen của ống dẫn trứng hoặc các nguyên nhân khác gây vô sinh.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

II.Quá trình thực hiện như thế nào?

Quá trình này được thực hiện trong khi bạn đang nằm ở một vị trí hơi nghiêng, với đầu của bạn thấp hơn so với bàn chân của bạn. Bạn sẽ được gây mê toàn thân giãn cơ bắp và ngăn chặn cơn đau trong khi phẫu thuật.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Tiếp theo, một đường rạch nhỏ được thực hiện gần rốn. Ống nội soi được đưa vào thông qua vết rạch này, và bụng được bơm căng để dễ dàng quan sát các cơ quan.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Nội soi cũng có thể được trang bị với các thiết bị phẫu thuật để lấy mẫu mô hoặc loại bỏ các mô sẹo. Một vết rạch thứ hai cũng có thể được thực hiện trên xương mu. Vết mổ này cũng mở một lỗ bổ sung cho các dụng cụ cần thiết để hoàn thành các tiến trình phẫu thuật nhỏ.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân thường ở trong một căn phòng hồi tỉnh khoảng một giờ. Bệnh nhân sau đó được đưa đến một đơn vị phẫu thuật khác để tiếp tục quan sát. Bạn sẽ được xuất viện sau khi bạn nhận được hướng dẫn để tự phục hồi tại nhà . Trong hầu hết trường hợp, bệnh nhân có thể ra viện khoảng bốn giờ sau khi phẫu thuật nội soi. Hiếm khi một bệnh nhân cần phải ở lại qua đêm để hỗ trợ phục hồi. Bệnh nhân được yêu cầu quay trở lại bác sĩ của họ để theo dõi kiểm tra trong vòng 2-8 tuần. Xin vui lòng xác định cuộc hẹn tiếp theo của bạn trước khi rời khỏi bệnh viện. Bạn sẽ không thể lái xe trong vòng 24 giờ sau khi phẫu thuật. Bạn phải có một người nào đó ở lại với bạn trong vòng 24 giờ sau khi phẫu thuật.

III.Phẫu thuật nội soi an toàn không?

Vâng. Phẫu thuật nội soi chẩn đoán là rất an toàn. Chỉ khoảng ba trong 1.000 phụ nữ đã phẫu thuật nội soi là có biến chứng. Biến chứng có thể bao gồm tổn thương các cơ quan gần đó, chảy máu, hay một vấn đề liên quan đến sự gây mê. Hãy nói bất cứ mối quan tâm mà bạn cần với bác sĩ .

IV.Chuẩn bị cho phẫu thuật nội soi

Xin vui lòng làm theo các hướng dẫn trước khi đến bệnh viện để phẫu thuật nội soi của bạn:

KHÔNG ăn, uống (bao gồm cả nước), hoặc hút thuốc sau nửa đêm trước ngày  thuật.

Mang giày gót thấp ngày phẫu thuật. Bạn có thể bị buồn ngủ do gây mê và không đứng vững.

Không nên đeo đồ trang sức. (Nhẫn cưới có thể được đeo.)

Mặc quần áo rộng.

Bạn có thể sẽ đau bụng và chuột rút sau khi phẫu thuật.

Không  sơn móng tay trước khi phẫu thuật.

V.Hồi phục tại nhà

Không uống rượu hoặc lái xe trong ít nhất 24 giờ sau khi phẫu thuật.

Bạn có thể tắm bất cứ lúc nào sau khi phẫu thuật.

Bạn có thể loại bỏ băng cuộn vào buổi sáng sau khi phẫu thuật.

Mảnh vải, tương tự như băng, có thể được gỡ bỏ từ 2-3 ngày sau khi phẫu thuật.

Bệnh nhân có thể trở lại làm việc ba ngày sau khi phẫu thuật. (Nếu bạn cần một lá thư của bác sĩ để xin nghỉ, xin vui lòng yêu cầu một buổi hẹn trước.)

Đừng lo ngại nếu nước tiểu của bạn có màu xanh lá cây. Một chất nhuộm màu xanh có thể được sử dụng để kiểm tra xem ống dẫn trứng của bạn nếu hở.

VI. Sự khó chịu sau phẫu thuật

Bụng của bạn có thể bị sưng lên trong vài ngày sau phẫu thuật.Bạn có thể sử dụng Tylenol để giảm đau.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Bạn có thể có một đau họng trong một vài ngày. Hãy thử sử dụng thuốc đau cổ.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Bạn có thể có buồn nôn nhẹ. Hãy thử ăn tối nhẹ trong ngày phẫu thuật. Trà, súp, bánh mì nướng, keo động vật, hoặc bánh quy giòn có thể giúp giảm buồn nôn.

Khí trong bụng có thể gây khó chịu ở cổ, vai và ngực từ 24 đến 72 giờ sau khi phẫu thuật. Hãy thử tắm nước ấm, hoặc sử dụng một miếng đệm nóng, hoặc đi bộ.

VII.Chảy máu âm đạo và kinh nguyệt

Âm đạo chảy máu đến một tháng sau khi phẫu thuật là bình thường. Nhiều phụ nữ không có chu kỳ kinh nguyệt tiếp theo bình thường sau 4-6 tuần sau khi phẫu thuật. Khi trở lại chu kỳ bình thường của bạn, bạn có thể nhận thấy chảy máu nhiều hơn và khó chịu nhiều hơn bình thường. Hãy chờ 2-3 chu kỳ kinh nguyệt trước khi xác định nếu phẫu thuật nội soi đã giúp giảm tình trạng của bạn.

VIII.Hoạt động tình dục

Bạn có thể tiếp tục các hoạt động tình dục một tuần sau khi phẫu thuật. Tuy

nhiên, mang thai vẫn có thể xảy ra trong quá trình phục hồi. Nếu bạn muốn ngừa  thai, thì sử dụng một biện pháp tránh thai

IX. Khi nào liên lạc với bác sĩ

Liên lạc bác sĩ của bạn ngay lập tức nếu bạn gặp bất kỳ những điều sau đây:

Buồn nôn vàói mửa liên tục hơn 24 giờ

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Nhiệt độ trên 100 độ F trong hơn 24 giờ
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Da bị đỏ, sưng, chảy dịch, hoặc chảy máu xung quanh chỗ rạch

Sau ngày đầu tiên của phẫu thuật: kinh nguyệt nhiều mà nặng hơn so với

chảymáu nặng bình thường, chảy nhiều máu với nhiều cục máu đông, hoặc thấm ướt băng vệ sinh ít hơn hai giờ.

nguồn:

http://my.clevelandclinic.org/services/laparoscopic_diagnostics/hic_diagnostic_laparoscopy.aspx

Read Full Post »

Định nghĩa thiếu máu

–        Thiếu máu là tình trạng số lượng hồng cầu hoặc lượng hemoglobin thấp hơn bình thường, do đó máu không đem đủ oxy để nuôi cơ thể. Lượng hemoglobin bình thường ở nam và nữ thường khác nhau. Ở nam giới, thiếu máu được định nghĩa khi mức hemoglubin dưới 13.5g/100ml và ở nữ giới là 12g/100ml.

Nguyên nhân thiếu máu

–        Bất kì quá trình nào ảnh hưởng tới vòng đời bình thường của hồng cầu cũng có thể gây thiếu máu, vòng đời bình thường của 1 hồng cầu thường khoảng 120 ngày và hồng cầu thường được tạo thành từ tủy xương, hủy đi tại lách.

–        Có 3 con đường cơ bản là nguyên nhân của thiếu máu

+ Thứ nhất là sự giảm sản xuất tế bào hồng cầu hoặc hemoglobin.

+ Thứ hai là sự tăng phá hủy các tế bào hồng cầu.

+ Xuất huyết.

Chuẩn đoán thiếu máu bằng huyết đồ

–        Thiếu máu thường được chẩn đoán bằng CBC (complete blood cell count): tổng phân tích tế bào máu hay huyết đồ

CBC là gì?

Chỉ số bình thường của CBC

–        Theo truyền thống, phân tích CBC được thực hiện bởi một bác sĩ hoặc kỹ thuật viên phòng thí nghiệm bằng cách quan sát lam được phết máu ngoại vi dưới kính hiển vi để xác định số lượng cái loại tế bào trong máu. Nhưng ngày nay, công việc này thường được thực hiện tự động bằng các loại máy móc.

–        Có 8 thành phần cơ bản của một tổng phân tích tế bào máu:

+ RBC (red blood cell): là số lượng tế bào hồng cầu

+ Hematocrit (HCT): đo thể tích của tế bào hồng cầu trong máu, chỉ số này cho ta biết % tế bào hồng cầu trong máu.

+ Hemoglobin (Hgb): lượng phân tử hemoglobin trong các tế bào hồng cầu. Hemoglobin là phân tử mang oxy và làm cho máu có màu đỏ. Đo lượng hemoglobin là một phương pháp tốt cho ta biết khả năng mang oxy của máu cung cấp cho cơ thể.

+ Các chỉ số của hồng cầu: MCV: thể tích trung bình hồng cầu.

MCH: lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu.

MCHC: nồng độ hemoglobin trung bình hồng cầu.

RDW: chiều rộng phân bố hồng cầu.

+ WBC: lượng tế bào bạch cầu bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm trùng.

+ WBC diff.: số lượng những loại bạch cầu như trung tính, lympho, mono, ái toan, ái kiềm,…

+ Platelet: số lượng tiểu cầu.

+ MPV: thể tích trung bình tiểu cầu.

Chỉ có 3 thông số đầu: RBC, hematocrit và hemoglobin là phù hợp nhất để chẩn đoán thiếu máu và mức độ thiếu máu. Ngoài ra MCV, MCH, MCHC cũng là một chỉ số quan trọng trong việc xác định và phân biệt nguyên nhân thiếu máu. Một số thông số khác cũng có ích trong việc gợi ý nguyên nhân thiếu máu là kích thước, hình dạng, màu sắc của hồng cầu.

Máu cho xét nghiệm CBC?

–       Máu thường được lấy từ vein, đựng trong ống chống đông, kết quả có thể có trong một giờ hoặc lâu hơn. Trong một vài trường hợp, có thể test nhanh bằng một vài giọt máu ngoại biên ở đầu ngón tay.

Các giá trị chẩn đoán thiếu máu theo huyết đồ:

–        Hemoglobin xuống dưới 11g/dL ở phụ nữ mang thai.

12g/dL ở phụ nữ.

13g/dL ở nam giới.

Thiếu máu được phân loại nặng nhẹ theo hemoglobin:

Thiếu máu nhẹ: 9 – 13g/dl

Thiếu máu trung bình: 8- 9.5g/dL

Thiếu máu nặng: dưới 8g/dL

–        Hematocrit: thời gian xuất huyết cấp, bệnh nhân thiếu máu ban đầu chỉ số HCT sẽ giữ nguyên, sau 1 thời gian HCT sẽ giảm do bệnh nhân hấp thu lại dịch mà không tạo thêm hồng cầu. Thiếu máu được xác định xảy ra khi chỉ số hematocrit:

Trẻ em từ 6 tháng tới 5 tuổi: dưới 33%

Trẻ em từ 5 tuổi tới 12 tuổi: dưới 35%

Trẻ em từ 12 tuổi tới 16 tuổi: dưới 36%

Nam trưởng thành: dưới 39%

Nữ trưởng thành không mang thai: dưới 36%

Nữ trưởng thành mang thai: dưới 33%

–        MCV giúp phân loại thiếu máu:

MCV<80fl, thiếu máu hồng cầu nhỏ. Có thể là dấu hiệu cho thấy nguyên nhân thiếu máu là thiếu sắt hoặc thiếu máu hồng cầu hình liềm.

80fl < MCV < 100fl, thiếu máu hồng cầu trung bình.

MCV> 100fl, thiếu máu hồng cầu to. Có thể là dấu hiệu cho thấy nguyên nhân thiếu máu là do giảm vitamin B12.

–        MCHC cho phép phân biệt thiếu máu:

Thiếu máu đẳng sắc: MCHC bình thường

Thiếu máu nhược sắc: MCHC < 320g/l. Nguyên nhân chủ yếu là đo thiếu sắt.

Phân loại nguyên nhân thiếu máu theo kết quả huyết đồ:

–        Thiếu máu hồng cầu to, ưu sắc:

Chủ yếu do thiếu vitamin B12 hay acid Folic, thường gồm các bệnh:

+ Bệnh thiếu máu ác tính Biermer.

+ Các bệnh thiếu máu bàng Biermer (para-biermérience) do cắt đoạn dạ dày (mất yếu tố nội tại do vùng đáy dạ dày tiết ra  nên có thể không hấp thụ được vitamin B12 là yếu tố ngoại.

+ Bệnh Spru:  tiêu hoá bị rối loạn, làm  cơ thể không hấp thụ  được vitamin B12.

–     Thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc:

Chủ yếu do thiếu sắt

+ Mất máu từ từ: mỗi ngày mất một ít nhưng rỉ rả nhiều năm như trong trĩ, ung thư dạ dày, ung thư trực tràng, u xơ tử cung, loét dạ dày tá tràng.

+ Các bệnh về dạ dày, ruột.  Khả năng hấp  thu sắt ở ruột kém.

–      Thiếu máu hồng cầu bình thường, đẳng sắc: (MCV, MCH bình thường)

+ Thiếu erythropoetin

+ Thiếu máu do cơ quan tạo huyết trung ương như suy tủy, xơ tủy,.v.v..

+ Thiếu máu do bệnh máu ác tính, vd: bạch cầu cấp, bạch cầu mạn.

+ Thiếu máu do hủy hoại hồng cầu ngoại biên: sốt rét, nhiễm độc, nhiễm khuẩn.v.v…

Ký sinh trùng sốt rét phá hủy hồng cầu.

Phết máu ngoại biên.

Định nghĩa: là kỹ thuật phết máu lên lam soi dưới kính hiển vi để xem hình dạng các tế bào máu, từ đó đưa ra chuẩn đoán về bệnh lý.

Chuẩn đoán thiếu máu qua phết máu ngoại biên:

– Đếm được số lượng các loại hồng cầu, hồng cầu chưa trưởng thành: tán huyết cấp, xuất huyết cấp.

– Có thể phát hiện hồng cầu to, hồng cầu nhỏ, ưu sắc nhược sắc.

– Bất thường về hình dạng hồng cầu, như hồng cầu liềm trong thiếu máu hc hình liềm .Hồng cầu hình cầu: thiếu máu tán huyết miễn dịch. Hồng cầu hình giọt nước: thiếu máu do thiếu sắt nặng..v.v..

– Phát hiện ra các nguyên nhân gay tán huyết như ký sinh trùng sốt rét, nhiễm độc chì, v.v…

@Nguồn:

Hình ảnh:

http://ocw.tufts.edu/data/24/340500/340578_xlarge.jpg

http://somalilandpost.net/wp-content/uploads/2011/10/anemia-2.png

http://nursingcrib.com/wp-content/uploads/procedure-complete-blood-count.jpg?9d7bd4

http://skds.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2009/06/19/ky-sinh-trung-sot-ret-pha-huy-hong-cau.JPG

http://www.pathologystudent.com/wp-content/uploads/2009/07/DIC_With_Microangiopathic_Hemolytic_Anemia_301920983.jpg

Tư liệu:

http://www.medicinenet.com/anemia/article.htm

http://www.webmd.com/a-to-z-guides/complete-blood-count-cbc

http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_th%E1%BB%A9c_m%C3%A1u

http://www.ykhoa.net/baigiang/trieuchunghocnoikhoa/chuong05/V_05.htm

http://www.umm.edu/patiented/articles/how_anemia_prevented_000057_6.htm

http://diendanykhoa.com/showthread.php?t=5821

http://labtestsonline.org/understanding/conditions/anemia

Read Full Post »

#Đinh nghĩa thiếu máu: là hiện tượng giảm số lượng hồng cầu, hoặc giảm nồng độ huyết cầu trong máu ngoại biên dân đến gây giảm nồng độ oxy trong máu.
             -Thiếu máu là một hội chứng gặp trong rất nhiều bệnh, có khi rất dễ tìm, nhưng cũng có khi rất khó xác định, mặc dù hiện nay các phương pháp dùng để chẩn đoán rất nhiều tiến bộ như dùng các loại kính hiển vi điện tử để nghiên cứu hình thái tế bào máu hay các xét nghiệm huyết học để xác định rối loạn chức phận máu.Một số xét nghiệm cần làm là công thức máu, tỷ lệ huyết sắc tố, có khi cần phải làm huyết đồ, tủy đồ, sinh thiết tủy xương, xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là giun móc.  # Công thức máu: còn được gọi là huyết đồ, là một trong những xét nghiệm thường quy được sử dụng nhiều nhất trong các xét nghiệm huyết học cũng như xét nghiệm y khoa.Công thức máu là xét nghiệm quan trọng cung cấp cho người thầy thuốc những thông tin hữu ích về tình trạng của bệnh nhân hoặc của người được xét nghiệm. 
              – Tuy nhiên phải biết rằng nếu chỉ riêng công thức máu thôi thì không thể cho phép đưa ra một chẩn đoán chính xác xác định về nguyên nhân gây bệnh nó còn cần phối hợp với triêu chứng lâm sàng và các xét nghiêm cân thiêt khác, nếu chi riêng huyêt đồ thì nó chỉ có tính chất định hướng cho chuân đoán mà thôi.
       – CÔNG THỨC MÁU
• Công thức máu gồm có các chỉ số sau: 

1) WBC = white blood cell = bạch cầu
2) NEU: NEUTROPHIL = Đa nhân trung tính
3) LYM: LYMPHOCYTE = Bạch cầu Lympho
4) MONO: MONOCYTE = Mono bào
5) EOS: EOSINOPHIL = Đa nhân ái toan
6) BASO: BASOPHIL = Đa nhân ái kiềm
7) RBC = Red Blood Cell = hồng cầu
8) HGB = Hb = Hemoglobin = huyết sắc tố
9) HCT = Hematocrit = dung tích hồng cầu
10) MCV = Mean corpuscular volume = thể tích trung bình một hồng cầu
11) MCH = Mean corpuscular hemoglobin = số lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu
12) MCHC = Mean corpuscular hemoglobin concentration = nồng độ hemoglobin trung bình trong một hồng cầu
13) RDW = Red (cell) Distribution width = phân bố hình thái kích thước hồng cầu (khoảng phân bố hồng cầu)
14) PLT = platelet = Tiểu cầu
15) MPV = Mean platelet volume = Thể tích trung bình tiểu cầu
16) PCT = Plateletcrit = Thể tích khối tiểu cầu
17) PDW = Platelet distribution width = Dải phân bố kích thước TC.
       • Ngoài ra còn có chi  sốphu khác, có thể đề nghị làm thêm bộ 3 xét nghiệm chức năng đông cầm máu:
1) TP (Prothrombin content) = tỉ lệ Prothrombin ( ~ TQ = Quick Time)
2) aPTT (activative Partial Thromboplastin Time) = thời gian Thromboplastin từng phần (~ TCK = cephalin – kaolin time).
3) Fibrinogen.
• Để phân biệt các cặp bệnh: Schoenlein Henoch & Suy nhược tiểu cầu, Hemophilia & Willebrand cần làm thêm TS (Saignement time) = thời gian máu chảy.

* Dòng hồng cầu
-Số lượng hồng cầu: thường được ký hiệu là RBC (red blood cell) hay ở một số tờ kết quả xét nghiệm của Việt Nam thì được ghi là HC, là số lượng hồng cầu có trong một đơn vị máu (thường là lít hay mm³)
-Nồng độ hemoglobin trong máu: thường được ký hiệu là HGB hay Hb (đơn vị tính bằng g/l hay g/dl), đo hàm lượng hemoglobin trong máu.
-Hematocrit – dung tích hồng cầu: thường được ký hiệu là Hct, đây là phần trăm thể tích của máu mà các tế bào máu có được (chủ yếu là hồng cầu.
-Các chỉ số hồng cầu:
RET % (% Reticulocyte) Hồng cầu lưới (Hồng cầu mạng): là HC trẻ vừa trưởng thành từ Nguyên HC ái toan trong quá trình sinh HC, là dạng chuyển tiếp giữa HC non trong tủy xương & HC trưởng thành ở ngoại vi. Hồng cầu lưới là giai đoạn biệt hóa và trưởng thành cuối cùng của hồng cầu trong tủy xương trước khi vào dòng máu tuần hoàn.Nếu reticulocyte count ( tính ra từ % reticulocyte ) thấp, sẽ cho ta thấy tủy xương bệnh, không sản xuất đủ các hồng cầu; ngược lại, khi trị số này cao, ta biết đang có sự thất thoát hồng cầu quá mức (như chảy máu đường tiêu hóa, chảy máu đường sinh dục…), hoặc đang có hiện tượng tan huyết, hủy hoại hồng cầu bất thường trong cơ thể.
Dựa vào 2 chỉ số RDW & MCV để phân biệt giữa:
+ Thiếu máu thiếu sắt, Thiếu máu do thiếu acid folic, Thiếu máu bất sản tuỷ (khi LS hướng đến những bệnh này) cụ thể:
– Nếu RDW > 15% => do TMTS hoặc do TM thiếu acid folic.
Kết hợp MCV để KL: nếu MCV TMTS, nếu MCV > 100 => TM thiếu acid folic.
– Nếu RDW bình thường (12 – 15%) và MCV > 100 => TM bất sản tuỷ.
Một chút phân biệt: Bất sản là hiện tượng không hình thành đầy đủ một cơ quan. Giảm sản là cơ quan đã hình thành nhưng chỉ có hình dạng và cấu trúc tương tự nhưng không hoàn chỉnh
MCV – thể tích trung bình hồng cầu, đơn vị thường dùng là femtolit (1 fl = 10-15lit)
MCV được tính bằng công thức: MCV = Hct / số hồng cầu. Giá trị MCV cho phép phân biệt các loại thiếu máu sau:
+Thiếu máu hồng cầu nhỏ: khi MCV < 90 fl
+Thiếu máu hồng cầu bình: khi 90 fl < MCV < 100 fl +Thiếu máu hồng cầu đại: khi MCV > 100 fl
MCHC – nồng độ hemoglobin trung bình hồng cầu, đơn vị thường dùng là (g/dl hay g/l)
MCHC được tính theo công thức: MCHC = Hb / Hct. MCHC cho phép phân biệt thiếu máu
+Thiếu máu đẳng sắc: khi MCHC trong giá trị bình thường
+Thiếu máu nhược sắc: khi MCHC < 320g/l
MCH – lượng hemoglobin trung bình trong một hồng cầu, đơn vị thường dùng là picogram (1 pg = 10-12g)
MCH được tính theo công thức: MCH = Hb / số lượng hồng cầu, hay MCH = Hb / RBC
Các giá trị bình thường của hồng cầu:
Giá trị bình thường:                      Nữ giới                                  Nam giới
Hồng cầu RBC hay HC            3.87 – 4.91                         4.18 – 5.42
Hemoglobin – Hb (g/l)           117.5 – 143.9                    132.0 – 153.6
Hematocrit – Hct (%)              34 – 44                                  37 – 48
MCV (fl)                         92.57 – 98.29                     92.54 – 98.52
MCH (pg)                          30.65 – 32.80                     31.25 – 33.7
MCHC (g/dl)                       33.04 – 35                            32.99 – 34.79
                                (Tham khảo theo WIKI PEDIA-phần công thức máu)
Tóm lại, các trị số của dòng hồng cầu cho những thông tin về tình trạng hồng cầu của máu người được làm xét nghiệm, tất nhiên không đầy đủ, gợi ý bệnh lý thiếu máu và nguyên nhân gây thiếu máu.Thông thường, các bác sỹ dựa vào nồng độ hemoglobin để chẩn đoán và đánh giá mức độ thiếu máu, và dựa theo định nghĩa sau:
Thiếu máu khi nồng độ Hb thấp hơn:
13 g/dl (130 g/l) ở nam giới
12 g/dl (120 g/l) ở nữ giới
11 g/dl (110 g/l) ở người lớn tuổi
Ngoài ra công thức máu còn có xét nghiêm về dòng bach cầu(phan ánh chính vềmức đô nhiêm trùng-tình trang viêm nhiêm,v.v…) và dòng tiêu cầu (phan ánh chính về kha năng đông máu) cũng nằm muc tiêu cua chuyên đề.
                                       Vây nguyên nhân nào gây thiếu máu ???
Có rất nhiều nguyên nhân gây thiếu máu. Ngoài các bệnh thuộc chuyên khoa sâu về huyết học, em xin phép chỉ đề cập đến một số nguyên nhân thường gặp.Cách sắp xếp phân loại thiếu máu,xin sử dụng cách thông dụng nhất là dựa vào số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố (gọi là giá trị hồng cầu) chia ra làm:
Thiếu máu ưu sắc — Thiếu máu nhược sắc — Thiếu máu đẳng sắc,chi tiết về các nguyên nhân thiếu máu như sau:
+Thiếu máu hồng cầu to, ưu sắc: Do thiếu vitamin B12 hoặc axit folic, gọi là bệnh thiếu máu ác tính Biermer, ngoài các triệu chứng chung còn thấy tim có tiếng thổi tâm thu, tim to. Lưỡi nhẵn, sáng bóng. Miệng, lưỡi và họng rát như phải bỏng. Có hiện tượng tê cóng, kiến bò ở các chi, phản xạ gân xương mất.
+Thiếu máu hồng cầu nhỏ, nhược sắc: Bao giờ cũng là hậu phát. Thường gặp trong các bệnh mất máu kinh diễn: như bị trĩ, loét dạ dày – tá tràng, ung thư dạ dày, u xơ tử cung, giãn tĩnh mạch thực quản, ho ra máu trong lao, ung thư phế quản, giãn phế quản, giãn động mạch phế quản. Bệnh nhân bị giun móc, giun hút máu, còn gây viêm tá tràng, làm giảm hấp thu chất sắt. Tình trạng thiếu chất sắt như các bệnh về dạ dày, ruột đưa đến hấp thu chất sắt kém
+Thiếu máu hồng cầu nhỏ, đẳng sắc: Thiếu máu do cơ quan tạo huyết gọi là suy tủy có nguyên nhân từ lao, viêm gan do virut, ngộ độc nghề nghiệp, do thuốc điều trị (kháng sinh, thuốc điều trị ung thư, tia xạ, thuốc trừ sâu…). Thiếu máu do hủy hoại hồng cầu ở ngoại biên, đó là các bệnh thiếu máu do tan huyết bẩm sinh hay mắc phải bệnh sốt rét, ký sinh trùng sốt rét làm vỡ hồng cầu.Ngoài ra còn các bênh nhiêm khuân cũng như ung thư,viêm thân man,sốt xuất huyết,v.v …
Vây chuân đoán nguyên nhân gay thiếu máu dựa trên huyết đồ + với triêu chứng lâm sàng có thê cho ta biết chính xác nguyên nhân gây thiếu máu trong 1 số trường hợp, nhưng như  đã nói ở trên thiếu máu là một hội chứng gặp trong rất nhiều bệnh có thể dễ nhận thấy — trái lai nhiều khi cũng rất khó xác định nguyên nhân. Ví du :
@ Với xét nghiêm về Fibrinogen(tieu cầu) đánh giá khả năng sinh HC của tủy xương, nhất là trong Suy tủy, xem mức độ sản xuất hồng cầu mau hay chậm & tủy xương đã đáp ứng ra sao trước sự thiếu máu => cần làm Hồng cầu lưới. Xét nghiệm này còn giúp củng cố cho hướng chẩn đoán TM tán huyết cũng như phân biệt các nguyên nhân thiếu máu.
@ Ti lê Bach Cầu tăng cao cũng gợi ý chuân đáo là 1 bênh nhiêm kí sinh trùng gây vở HC(sốt rét) hay nôc rắn cũng làm tan máu.
@Dựa vào 2 chỉ số RDW & MCV còn có thê biết thiếu máu thiếu sắt, Thiếu máu do thiếu acid folic, Thiếu máu bất sản tuỷ. V.v…
@ Thiếu máu thiếu sắt là một kiểu thiếu máu thường gặp, nhất là ở phụ nữ  có thai bị thiếu sắt.
             Nguồn tham khảo: wikipedia.org,medicinenet.com,ykhoa.net,diendanykhoa.com

Read Full Post »

Phình động mạch chủ bụng ( Abdominal aortic aneurysm – AAA )

Illustration showing an abdominal aortic aneurysm

– Phình động mạch định nghĩa là ổ dãn ở động mạch mà ở đó , đường kính tăng ít nhất 50% so với bình thường. Theo định nghĩa đó, phình động mạch chủ bụng khi động mạch giãn nở ít nhất 3cm.  Phình động mạch chủ bụng thường có liên quan và đe doạ tiềm tàng mạng sống

Diagram of the location of the aorta, which runs down the middle of the body from the heart to the groin, where it splits into leg arteries. Thoracid aneurysms form in the upper (chest) part of the aorta behind the heart, while abdominal aneurysms form in the belly part of the aorta, below where the kidney arteries branch off.

aorta : động mạch chủ
thoracic aorta : động mạch chủ ngực
abdominal aorta : động mạch chủ bụng
artery to kidney : động mạch đến thận
Thoracic aortic aneurysm (TAA) : phình động mạch chủ ngực
Abdominal aortic aneurysm (AAA : phình động mạch chủ bụng

– Động mạch chủ bụng được bao bọc bở 3 lớp mô riêng biệt : nội mạc  ( intima ), lớp trung gian ( media ) và lớp vỏ ( adventitia ). Lớp trung gian gồm những tế bào cơ trơn bao bọc bởi sợi elastin, collagen , và proteoglycans; đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc và sự co giãn của động mạch. Thường phình động mạch là do biến đổi lớp trung gian , làm cho lồng động mạch dãn từ từ .

– Chỗ phình có thể ở bất cứ chỗ nào dọc theo chiều dài động mạch, tuy nhiên, 90% trường hợp nằm dứoi mức động mạch thận – mạch máu tách ra từ động mạch chủ , cung cấp máu cho thận . Ổ phình thường có dạng hình thoi ( fusiform ), mở rộng khắp chi vi của động mạch. Thành trong của chỗ phình thường gắn cục máu đông

Các loại phình động mạch chủ bụngPhình động mạch chủ bụng được miêu tả dụng trên

  • Vị trí phần phình của động mạch ( so với động mạch thận )

+ Phình động mạch chủ bụng dứoi thận : (Infra Renal Abdominal Aortic Aneurysm )  chiếm 90% số trường hợp . Nó thường an toàn nhiều hơn vì thận sẽ ít bị ảnh thưởng xấu kể cả trước và sau khi phãu thuật

+ Phình động mạch chủ bụng trên thận ( supra renal abdominal aortic aneurysm ) : chiếm khoảng 10% số ca, có thể gay ra hậu quả rất nghiêm trọng đối với thận vì lượng máu đến cấp cho thận bị giảm . Phẫu thuật sửa chửa cũng có thể tăng rủi ro.

  • Lớp trên có liên quan trên thành động mạch  : Dựa vào số lớp ảnh hưởng của thành động mạch, phình động mạch có thể coi là phỉnh động mạch thật hăọc giả

+ Phình động mạch chủ bụng  thật ( true aneurysm ) : cả 3 lớp của thành động mạch có liên quan. Nó là sự giả nở thật sự của động mạch.  Loại này còn được chia thành phình động mạch chủ bụng dạng hình thoi  ( fusiform abdominal aortic aneurism ) hoặc phình động mạch chủ bụng dạng bình túi ( saccular abdominal aortic aneurysm ) . dạng hình thoi thường gặp hơn, có thể kéo dài khoảng 20cm dẫn đến ảnh thưởng động mạch chậu

+ Phình động mạch chủ bụng giả  ( flase aneurism ) : không phải cả 3 lớp của thành động mạch đều bị ảnh hưởng. Nguyên nhân thường do tổn thương hoặc nhiểm trùng

– Nguyên nhân của phình động mạch chủ bụng : Vẫn chưa biết được nguyên nhân chính xác, nhưng, những yếu tố sau được cho là có liên quan

  • Biến đổi của thành động mạch do xơ vữa đông mạch mãn tính ( chiếm khoảng 90% các trường hợp ). Nó làm mất độ co giãn tự nhiên của động mạch, làm động mạch không giãn hoặc co như trước. Thành động mạch dần căng và gãy, Dần dần, thành mỏng dần , có thể xuất hiện những điểm yếu , thậm chí gãy vỡ  mà không được cảnh báo
  • Dị tật di truyền ở cấu trúc protein collagen và elastin – những protein tạo khuôn của thành động mạch . Thiếu hoặc kém chất lượgn elastin dẫn đến động mach giãn ra và những sợi collagen dị dạng bị gãy vỡ.  Dị tật ảnh hưởng đến cả 2 loại protein này dẫn đến thành động mạch bị ảnh hưởng tiềm tàng
  • Chấn thương do tác động trực tiếp như : đụng xe, bị đâm, nhiễm trùng, giang mai ( syphilis ), ….
  • bệnh viêm động mạch ( arterítis ) : làm thành động mạch yếu hơn
  • viêm màng trong tim hơi cấp do vi khuẩn ( subacute bacterial endocarditis )
  • hoại tử thành động mạch
  • thuốc lá : thuốc lá làm mỡ bám vào thàh động mạch , dẫn đến thành động mạch dày lên và làm tăng nguy cơ.
  •  Cao huyết áp : cao huyết áp không điều trị điều đặn  có thể làm tổn thương và yếu động mạch
Yếu tố nguy cơ :
  •  Tuổi : thường xảy ra  từ 60 tuổi trở lên
  • Thuốc lá
  • Rựou bia :  gây xơ vữa động mạch , làm tăng nguy cơ
  • Cao huyết áp
  • Xơ vữa động mạch : sự tích luỹ chất béo cũng như những thành phần khác làm tổn thương lòng động mạch , tăng nguy cơ phình
  • Chủng tộc : xảy ra ở ngừoi da trắng nhiều hơn
  • Tiền sử gia đình

– Triệu chứng

  • Thường không gây triệu chứng ở gia đoạn đầu nếu nó không đủ lớn ( 3-5 cm  …. Bình thường đường kính động mạch chủ khoảng 2,5cm ) . THường phát ngẫu nhiên do chụp x quang .
  • Triệu chứng thường gặp của phình động mạch bao gồm

               +  Đau âm ỷ và đầy ở giữa bụng dứoi hoặc dứoi sau

+ Cảm thấy một chỗ lồi lên theo nhịp đập của tim ở giữa bụng dứoi

+  Đau bụng dươis trái

+ Đau lung dứoi trái

+  Đau bụng dứoi đột ngột , lan xuống lung, có hoặc không choáng liên quan

– Chuẩn đoán : chủ yếu dựa vào hình ảnh học

  • x quang
  • ct 
  • x quang động mạch – động mạch đồ  (Arteriogram )
  • siêu âm

– Điều trị : Thường phẫu thuật khi chỗ phình có đường kính lớn hơn 4cm. Thường có 2 cách điều trị

  • Phẫu thuật hở
  • Sửa chữa nội mạch máu
  • Diagram
Abdominal aortic aneurysm

nguồn : http://health.nytimes.com/health/guides/disease/abdominal-aortic-aneurysm/overview.html

http://en.wikipedia.org/wiki/Abdominal_aortic_aneurysm

http://www.mayoclinic.com/health/abdominal-aortic-aneurysm/DS01194

http://www.abdopain.com/abdominal-aortic-aneurysm.html

Read Full Post »

SPLENOMEGALY

I. Tổng quan

Lách là cơ quan có chức năng đa dạng, đóng vai trò tích cực trong miễn dịch và tạo máu. Lách nằm ở góc phần tư trên trái của ổ bụng, tiếp giáp với xương sườn 9-12, dạ dày, thận trái, đại tràng góc lách và đuôi tụy. Một lá lách bình thường chỉ nặng khoảng 150g và dài khoàng 11 cm

Lách bình thường không thể sờ được, nhưng đôi khi nó có thể sờ thấy ở thanh thiếu niên và những người có thể trạng gầy. Tuy nhiên, lách phình to hoặc sờ thấy không nhất thiết phải có ý nghĩa trên lâm sàng. Hơn nữa,ở  một số cá nhân với khoảng liên sườn dãn rộng và lách nhỏ, lách có thể được sờ thấy dễ dàng.

Một lá lách có trọng lượng 400-500g được xem là to. Đối với một số tác giả, trọng lương 1000g cho thấy lách rất to. Lách lộ ra dưới bờ sườn thường nặng 750-1000g. Lách được xem là to ở mức độ trung bình nếu kích thước lớn nhất khoảng 11-20 cm và mức độ nghiêm trọng nếu kích thước lớn nhất vượt quá 20 cm.

Trong nhiều trường hợp, lách trở nên phì đại khi thực hiện các chức năng bình thường. Bốn chức năng quan trọng nhất của lách là: Dọn sạch vi sinh vật và kháng nguyên lạ trong máu; tổng hợp các globulin miễn dịch G (IgG), các properdin (một hóa chất của con đường kích hoạt hệ thống bổ thể) và tuftsin (một loại tetra-peptit miễn dịch); loại bỏ các tế bào hồng cầu bất thường; tạo máu.

II. Nguyên nhân

Trong hàng loạt các bệnh lý liên quan, sáu nguyên nhân được xem là chủ yếu khiến lách to bao gồm:

– Phì đại do đáp ứng miễn dịch – chẳng hạn như trong viêm nội tâm mạc bán cấp do vi khuẩn hay tăng bạch cầu đơn nhân trong nhiễm trùng.

– Phì đại do hủy hồng cầu – bệnh hồng cầu hình cầu di truyền hay thalassemie.

– Sung huyết – huyết khối tĩnh mạch lách hay tăng áp tĩnh mạch cửa.

– Tăng sinh tủy xương – chẳng hạn như trong chuyển sản tế bào tủy mạn tính.

– Xâm nhập – ví dụ như trong bệnh sarcoit hoặc một số khối u khác.

– Ung thư – chẳng hạn như bệnh bạch cầu lympho mạn tính và u lympho.

Những nguyên nhân khác bao gồm chấn thương, u nang, u mạch máu, di căn, các khối áp xe lớn (hình 1), và vài loại thuốc.

Hình 1: bệnh nhân này có một áp xe lách do phế cầu khuẩn. Lưu ý rằng lách to mức độ nặng rất dễ nhìn thấy ở góc phần tư trên trái.

Hình 2: mẫu mô cắt từ bệnh nhân ở hình 1. Ghi nhận các ổ áp xe riêng rẽ nằm liền kề với mô bình thường.

1. Lách to do phản ứng viêm:

Đây là sự phì đại cấp tính của lách gắn với các tình trạng nhiễm trùng khác nhau hoặc các quá trình viêm, và là kết quả của sự tăng cường hoạt động miễn dịch của cơ thể. Nhu cầu tiêu diệt kháng nguyên lạ trong máu tăng lên, dẫn đến sự tăng sinh của các tế bào lưới nội mô trong lách, tăng kích thích sản xuất kháng thể thông qua tăng số lượng lympho bào. Các ví dụ điển hình bao gồm: lách to do Lupus, hội chứng Felty, nhiễm virus Ebstein Barr…

2. Bất thường về hồng cầu:

Nhiệm vụ của lách là lọc các tế bào mau1 bất thường và loại bỏ chúng khỏi hệ thống tuần hoàn của cơ thể. Vì thế, các bệnh lý của hồng cầu sẽ khiến lách to. Bệnh hồng cầu hình liềm, thalassemie, hồng cầu hình cầu là những ví dụ về bất thường hình dạng hồng cấu, làm giảm lưu động cúa các tế bào này qua các mạch máu nhỏ và mao mạch của cơ thể. Nếu không được loại bỏ bởi lách, chúng sẽ gây ra các cục máu đông, làm giảm lưu thông máu trong cơ thể. Tuy nhiên, việc loại bỏ liên tục sẽ khiến lách sưng lên và nở rộng.

3. Sung huyết:

Tình trạng này diễn tiến như là hậu quả của bệnh xơ gan gây tăng áp tĩnh mạch cửa, huyết khối tĩnh mạch lách, hoặc suy tim sung huyết khiến áp lực tĩnh mạch chủ tăng lên.

4. Xâm nhập:

Trong trường hợp này, lách to là kết quả của sự ứ đầy các đại thực bào và các vật liệu khó tiêu hóa (bệnh sarcoit, bệnh Gaucher, thoái hóa tinh bột, khối u ác tính di căn…)

5. Nhiễm trùng lách:

Công việc lọc các tác nhân gây bệnh trong máu của lách, đặc biệt là các sinh vật đã được đóng gói trong nang, có thể dẫn đến hình thành áp xe lách. Vì nhiều áp xe ở lách có thể không gây đau khi xuất hiện, nên kích thước của lách có thể tăng lên cùng với áp xe. Đây là mối tương quan không phổ biến lắm, nhưng rất quan trọng trong tiến trình nhận biết và điều trị.

6. Tăng áp lực/ tắc tĩnh mạch lách:

Máu vào lách thông qua động lạch lách và đi ra theo tĩnh mạch lách. Nếu áp suất trong tĩnh mạch lách tăng lên, hoặc tĩnh mạch lách bị tắc nghẽn, máu sẽ không thể rời rỏi lách và ứ lại làm lách to. Thông qua mối quan hệ với lưu lượng máu ở gan, bệnh xơ gan và tắc tĩnh mạch cửa có thể gây biến chứng với lưu lượng máu tĩnh mạch lách. Suy tim sung huyết có thể khiến cả gan và lách cùng to lên vì nó làm tăng áp tĩnh mạch chủ.

III. Tiếp cận bệnh nhân có lách to

1. Bệnh sử:

Bản thân lách to có thể không gây nên triệu chứng, bệnh nhân thường tìm đến bác sĩ vì các triệu chứng của bệnh lý tiềm ẩn, bao gồm: cơ thể suy nhược do thiếu máu, dễ chảy máu do giảm tiểu cầu, nhiễm trùng tái phát thường xuyên do suy chức năng hệ bạch cầu…

* Vài dấu hiệu liên quan đến các rối loạn tiềm ẩn bao gồm:

– Sốt cao (nhiễm trùng)

– Khó thở, xanh xao, bầm tím hoặc/và các đố xuất huyết (tán huyết)

– Triệu chứng của bệnh gan (sung huyết)

– Sụt cân, suy nhược (khối u)

– Viêm tụy (huyết khối tĩnh mạch lách)

– Tiền sử nghiện rượu, viêm gan (xơ gan)

Tuy nhiên, lách to có thể đè lên cơ hoành, kích thích gây cảm giác đau lan vai trái, nhưng nhẹ và mơ hồ. Lách to cũng có thể đẩy về phía dạ dày, gây cảm giác chán ăn, đầy hơi sớm khi ăn và mất cảm giác ngon miệng.

Ngoài ra, khi lá lách phì đại vượt ra ngoài sự bảo vệ của lồng ngực, nó dễ dàng bị tổn thương hơn. Tùy vào mức độ tổn thương của lách, nó có thể dẫn đến các hậu quả như xuất huyết trong ổ bụng gây chướng (phù nề), đau ở lưng và vai trái, và các dấu hiệu của sốc mất máu bao gốm thở nhanh, nông, da lạnh, tái, vã mồ hôi…

2. Thăm khám lâm sàng:

Kích thước của lách không phải là tiêu chuẩn đáng tin cậy để đánh giá chức năng của lách, và lác lách sờ thấy không phải lúc nào cũng bất thường. Ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và có cơ hoành thấp, ta thường sờ thấy lách.

Thăm khám lâm sàng bao gồm khám sờ với bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa và nghiêng phải, gập gối và hông thả lỏng. Yêu cầu bệnh nhân hít vào từ từ, cùng lúc đó ấn nhẹ đầu ngón tay. Sử dụng tư thế Trendelenburg nghịch có thyể giúp đưa lách chạm vào ngón tay của người khám. Điều này đặc biệt hữu ích đối với các bệnh nhân béo phì nặng. Lách di chuyển trong chu trình hô hấp và có tểh sờ thấy ở cuối thì hít vào.

Trong trường hợp lách quá to, như được miêu tả trong hình dưới đây, cực dưới lách có thể được mở rộng vào vùng chậu hoặc qua đường giữa bụng. Khi đó, sờ ở vùng chậu hay góc phần tư trên phai3 là cần thiết để phân định vị trí và kích thước lách.

Hình 3: Các bờ của lách khổng lồ này dễ dàng sờ thấy được. Lách nặng 3.18 kg, vượt qua đường giữa và mở rộng vào vùng chậu ở phía dưới.

Gõ bụng có thể giúp phát hiện sự thay đổi vị trí của vùng dạ dày trong trường hợp lách to.

Các dấu hiệu bổ sung gợi ý căn nguyên của lách to bao gồm:

– Các triệu chứng của xơ gan (ví dụ như sao mạch, vàng da, tuần hoàn bàng hệ, nữ hóa tuyến vú, cổ trướng…)

– Âm thổi tim (viêm nội tâm mạc, suy tim sung huyết)

– Vàng da.

– Vàng củng mạc (bệnh hồng cầu hình cầu, xơ gan)

– Xuất huyết dạng đồm (bất kỳ nguyên nhân gây giảm tiểu cầu nào).

3. Cận lâm sàng:

Nếu dấu hiệu lách to trong thăm khám lâm sàng không rõ ràng, siêu âm là xét nghiệm được lựa chọn đầu tiên vì tính chính xác và chi ví thấp. CT và MRI có thể cung cấp chi tiết hơn tính nhất quán của cơ quan. MRI đặc biệt hữu ích trong việc phát hiện huyết khối tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch lách.

Nguyên nhân đang nghi ngờ nên được kiểm tra bằng các xét nghiệm thích hợp. Nếu không có nguyên nhân được nghĩ đến, ưu tiên cao nhất là loại trừ nhiễm trùng, bởi việc điều trị kịp thời có ảnh hưởng đến tiên lượng của nhiễm trùng hơn là các nguyên nhân khác. Xét nghiệm phải được thực hiện triệt để nếu bệnh nhân sống trong vùng dịch tễ hoặc có biểu hiện nhiễm trùng. Công thức máu, cấy máu, cấy/xét nghiệm tủy xương nên được xem xét. Nếu bệnh nhân không có dấu hiệu nhiễm trùng, không có yếu tố nguy cơ nhiễm bệnh, mức độ của các xét nghiệm đang gây tranh cãi, nhưng nó có tểh bao gồm công thức máu, phết máu ngoại vi, kiểm tra chức năng gan, và CT bụng. Đo lưu lượng tế bào máu ngoại vi được chỉ định nếu nghi ngờ ung thư hạch.

Nguồn: http://emedicine.medscape.com/article/206208-overview#aw2aab6b2b2aa

http://emedicine.medscape.com/article/206208-clinical

http://emedicine.medscape.com/article/206208-differential

http://www.medicinenet.com/enlarged_spleen_splenomegaly/article.htm

http://www.merckmanuals.com/professional/hematology_and_oncology/spleen_disorders/splenomegaly.html

Read Full Post »

Older Posts »