Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Dạ dày’ Category

    

 I. Sơ lược về hội chứng hẹp môn vị:

     Môn vị là phần cuối của dạ dày, nơi thông nối giữa dạ dày và tá tràng. Thức ăn từ thực quản xuống dạ dày, được tiêu hóa tại đây, sau đó đẩy xuống tá tràng qua 1 cái lỗ hẹp gọi là lỗ môn vị, điều khiển đóng mở bởi cơ thắt môn vị.

     Hội chứng hẹp môn vị xảy ra khi có một bế tắc (gây ra bởi nguyên nhân nào đó) ở ngay tại vùng môn vị, khiến thức ăn không thể xuống ruột non được và ứ lại trên dạ dày. Những biểu hiện trên bệnh nhân gồm có đầy hơi, đau quặn ở vùng thượng vị sau khi ăn, buồn nôn, nôn (ra thức ăn cũ ngày hôm trước) và sau khi nôn thì đỡ đau.

     Ngoài những nguyên nhân thường gặp nhất của hội chứng hẹp môn vị như u, loét dạ dày, u tụy,… còn có một số nguyên nhân khác, hiếm gặp hơn.

     II. Hội chứng Bouveret:

     Được mô tả lần đầu tiên bởi bác sĩ Leon Bouveret vào năm 1869, hội chứng cùng tên này là hiện tượng sỏi túi mật lạc chỗ, kẹt trong lòng ruột chỗ cửa ra của lỗ môn vị. 2.5 cm là kích thước sỏi có khả năng gây ra tình trạng này nhất. Thông qua một đường dò mật-dạ dày hoặc mật-tá tràng, viên sỏi sẽ thoát vào lòng ruột, kẹt ở đó (thường nhất là hành tá tràng) gây tắc.

     Triệu chứng của những bệnh nhân này thường không khác gì một ca hẹp môn vị với nguyên nhân thường gặp, ngoại trừ có thêm dấu hiệu vàng da, bụng chướng căng và dấu mất nước. Chẩn đoán phần nhiều dựa vào cận lâm sàng hỗ trợ:

     X quang: Tam chứng Rigler (tắc ruột, sỏi lạc chỗ, khí trong đường mật)

     Nội soi dạ dày – tá tràng: Phát hiện được sỏi kẹt trong ống tiêu hóa, có thể kèm loét.

     Siêu âm: Ảnh dưới chụp sỏi kẹt tá tràng trong lúc có nhu động ruột co bóp.

 

     CT: Thấy khối u trong lòng tá tràng, túi mật sát bên với hình ảnh mực nước hơi.

     III. Lao dạ dày – tá tràng:

     Đường ruột chỉ chiếm vị trí thứ 6 trong số các cơ quan bị vi khuẩn lao tấn công nhiều nhất. Trong đó, 85% các ca tổn thương ở vùng hồi – manh tràng. Sau đó lần lượt là đại tràng lên, hỗng tràng, ruột thừa rồi mới đến tá tràng, dạ dày. Điều này càng làm cho lao tá tràng trở nên hiếm hơn nữa với tỉ lệ 2% tổng số ca lao đường ruột và chỉ có vài ca từng được ghi nhận trong y văn. Tuy nhiên, khi tình huống này xảy ra thì nó trở thành thách thức lớn cho người bác sĩ để chẩn đoán chính xác. Cho đến bây giờ, vẫn chưa có ai mô tả một chuẩn rõ ràng để tìm ra được bệnh.

     Lao dạ dày-tá tràng thường dễ gây nhầm lẫn với loét dạ dày, triệu chứng: đau thượng vị, nôn ói và có cả hội chứng hẹp môn vị. Nhưng nó có vài triệu chứng khác như sụt cân, xuất huyết tiêu hóa trên, sốt. Trong đó, hội chứng hẹp môn vị thường được cho là gây ra bởi các hạch lao chèn ép từ ngoài hơn là chính nó gây tổn thương chít hẹp ở bên trong.

     Dưới đây là các hình ảnh cận lâm sàng ghi nhận lại từ một bệnh nhân 17 tuổi bị lao ổ bụng nhưng với biểu hiện của hội chứng hẹp môn vị:    

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Nội soi dạ dày cho thấy cơ thắt môn vị phù, biến dạng xù xì với ổ loét bên cạnh
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
CT Scan cản quang phát hiện dạ dày chuớng to và đang gợi ý hình ảnh bệnh lý hạch
 
Sau khi mổ bụng thám sát, phẫu thuật viên tìm thấy cơ thắt tâm vị dày lên, xù xì và có hạch lân cận sưng to. Kết quả sinh thiết hạch giải phẫu bệnh cho thấy phù hợp với tổn thương hạch do lao.
 
    
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
   
 
 
 
     IV. Thoát vị bẹn:
     Trong những ca thoátvị bẹn lớn, dạ dày có thể bị kéo xuống dưới tận túi thoát vị và kẹt ở đó, gây biểu hiện của hội chứng hẹp môn vị. Y văn đã ghi nhận 60 ca trên thế giới rơi vào trường hợp này.
     Biến chứng quan trọng và nguy hiểm của bệnh này là vỡ dạ dày. Tuy nhiên, có nhiều  trường hợp, tùy theo điều kiện, vẫn có thể điều trị bảo tồn. Ca lâm sàng của một bệnh nhân nam 70 tuổi dưới đây là một ví dụ:
     Bệnh nhân có tiền căn thoát vị bẹn trái 20 năm, không triệu chứng và cũng không điều trị. Lần này nhập viện với lý do ói ra máu. Khám thấy dấu mất nước (+), chướng bụng, giảm nhu động ruột và mất vùng đục trước gan. Không thấy dấu hiệu phúc mạc bị kích thích. Cận lâm sàng:
     X quang: Khí tự do dưới cơ hoành.
 
     CT Scan: Khí tự do ổ phúc mạc, khí trong hệ cửa, tụ khí trong thành dạ dày.
Mặt phẳng đứng dọc
 
 
Mặt phẳng đứng ngang
 
     Bệnh nhân này được chỉ định điều trị bảo tồn, đặt thông dạ dày giải áp. Bệnh nhân đáp ứng tốt với điều trị.
 
     V. Tụy hình vòng:
     Tụy hình vòng là một tật bẩm sinh xảy ra khi trong quá trình phôi thai, nụ tụy bụng đã không hoàn tất tiến trình quay bình thường của nó để sát nhập nụ tụy lưng, dẫn đến hậu quả là mô tụy phát triển thành một cái vòng bao quanh phần xuống của tá tràng. Với tỉ lệ 0.015% dân số, đây cũng là một nguyên nhân hiếm gặp gây hội chứng hẹp môn vị.
     Vì sự phát triển vòng quanh tá tràng, khả năng gây tắc đường tiêu hóa của tụy hình vòng là rất cao. Và nó cũng sẽ gây các triệu chứng tương tự như hẹp môn vị. Có nhiều cận lâm sàng để chẩn đoán bệnh này:
      MRCP:
 
     Siêu âm: Dưới đây là hình ảnh rất rõ của tật tụy hình vòng.
 
     CT:
 
 
 
Nguồn:
 
 
 

Read Full Post »

Hội chứng Dumping là một nhóm các triệu chứng có thể xảy ra nếu bạn đã phẫu thuật để loại bỏ tất cả hoặc một phần dạ dày, hoặc nếu dạ dày đã được phẫu thuật thu hẹp để giúp giảm cân. Hội chứng Dumping xảy ra khi các thành phần chưa tiêu hóa của dạ dày di chuyển quá nhanh xuống ruột non. Các triệu chứng thường gặp bao gồm đau bụng, buồn nôn và tiêu chảy.

Hầu hết những người có HC này, các triệu chứng xảy ra ngay sau khi ăn. Trong những người khác, các triệu chứng có thể xảy ra 1-3 giờ sau khi ăn. Một số người gặp cả hai triệu chứng sớm và muộn.

HC Dumping có thể được kiểm soát bằng cách điều chỉnh chế độ ăn uống. Trong trường hợp nghiêm trọng hơn, có thể cần dùng thuốc hoặc phẫu thuật.

Photobucket

Triệu chứng

Các triệu chứng của hội chứng phổ biến nhất là trong bữa ăn hoặc trong vòng 15-30 phút sau bữa ăn. Chúng bao gồm:

Đường tiêu hóa

  • Buồn nôn
  • Ói mửa
  • Co cứng cơ bụng
  • Tiêu chảy
  • Cảm giác đầy, chướng

Tim mạch

  • Chóng mặt, hoa mắt
  • Tim đập nhanh

Các dấu hiệu và triệu chứng này cũng có thể xảy ra 1-3 giờ sau khi ăn. Điều này là do một số lượng lớn đường đi vào ruột non (tăng đường huyết). Khi hấp thu, cơ thể thải ra một lượng lớn insulin để hấp thụ đường, dẫn đến hạ đường huyết. Các triệu chứng muộn của HC Dumping có thể bao gồm:

  • Đổ mồ hôi
  • Đói
  • Mệt mỏi
  • Chóng mặt, hoa mắt
  • nhầm lẫn
  • Tim đập nhanh
  • ngất xỉu

Một nghiên cứu của hơn 1.100 người có phẫu thuật cắt bỏ dạ dày thấy rằng khoảng 2/3 đã có các triệu chứng sớm và 1/3 có các triệu chứng muộn của hội chứng Dumping. Một số người gặp cả hai dấu hiệu/triệu chứng sớm và muộn.

Không có vấn đề gì khi các triệu chứng phát triển, tuy nhiên, chúng có thể tồi tệ hơn sau một bữa ăn có lượng đường cao, đặc biệt một trong số đó là đường sucrose hoặc đường hoa quả fructose.

Liên hệ với bác sĩ nếu có các dấu hiệu sau đây:

  • Xuất hiện các dấu hiệu và triệu chứng có thể là do hội chứng Dumping, thậm chí nếu bạn không có phẫu thuật.
    Triệu chứng của bạn không được kiểm soát bằng cách thay đổi chế độ ăn uống.
  • Sụt cân do hội chứng Dumping. Bác sĩ có thể giới thiệu bạn đến một chuyên gia dinh dưỡng để giúp bạn lên kế hoạch ăn uống thích hợp nhất.

Nguyên nhân

Trong hội chứng Dumping, thực phẩm và nước trái cây từ dạ dày di chuyển xuống ruột non nhanh một cách bất thường và không kiểm soát được. Điều này thường liên quan đến sự thay đổi của dạ dày liên quan đến phẫu thuật, chẳng hạn như khi môn vị (dạ dày) đã bị cắt bỏ trong phẫu thuật.

Photobucket

Môn vị đóng vai trò như van đóng mở, làm rỗng dạ dày dần dần. Khi nó bị cắt bỏ, dạ dày tống thức ăn nhanh chóng vào ruột non. Các tác động xấu này được cho là gây ra bởi việc tiết các hormone tiêu hóa ở ruột non, cũng như insulin tiết ra để xử lý lượng đường (glucose).

Hội chứng Dumping có thể xảy ra sau bất kỳ tác động nào lên dạ dày cũng như sau khi cắt bỏ thực quản. Phẫu thuật dạ dày để giảm cân là nguyên nhân phổ biến nhất hiện nay. Hội chứng tiến triển trong vòng vài tuần sau khi phẫu thuật, hoặc ngay sau khi quay trở lại chế độ ăn uống bình thường. Dạ dày càng bị cắt bỏ nhiều, càng nhiều khả năng làm tình trạng trở nên nghiêm trọng. Đôi khi trở thành một rối loạn mãn tính.

Các test kiểm tra và chẩn đoán

Bác sĩ có thể sử dụng một số phương pháp sau đây để xác định xem bạn có hội chứng Dumping:

  • Bệnh sử. Bác sĩ có thể chẩn đoán hội chứng Dumping bằng cách lấy một bệnh sử cẩn thận và sau đó đánh giá các dấu hiệu và triệu chứng của bạn. Nếu bạn đã trải qua phẫu thuật dạ dày, có thể giúp chẩn đoán hội chứng Dumping.
    Kiểm tra lượng đường trong máu. Bởi vì lượng đường trong máu thấp đôi khi kết hợp với hội chứng Dumping, bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm (oral glucose tolerance test) để đo mức độ đường trong máu tại thời điểm các triệu chứng rầm rộ nhất để giúp xác định chẩn đoán.
  • Kiểm tra dạ dày rỗng. Một loại vật liệu phóng xạ được thêm vào thực phẩm để đo lường một cách nhanh chóng thực phẩm di chuyển qua dạ dày.

Phương pháp điều trị và thuốc

Hầu hết các trường hợp hội chứng Dumping được cải thiện khi mọi người tìm hiểu cách ăn uống tốt hơn cho điều kiện bệnh và điều chỉnh hệ thống tiêu hóa. Có một cơ hội rằng thay đổi chế độ ăn uống sẽ giải quyết các triệu chứng bệnh. Nếu không, bác sĩ có thể tư vấn loại thuốc hoặc phẫu thuật để giải quyết vấn đề.

Thuốc

Bác sĩ có thể kê toa một số thuốc để làm chậm việc tiêu hóa thực phẩm trong dạ dày, và làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng liên quan với hội chứng Dumping. Những loại thuốc này thích hợp nhất cho những người có dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng, nhưng chúng không hẳn có tác dụng với tất cả mọi người.

Các loại thuốc mà bác sĩ thường xuyên chỉ định là:

  • Acarbose (Precose). Thuốc làm chậm quá trình tiêu hóa carbohydrate. Bác sĩ thường chỉ định cho những bệnh nhân bị đái tháo đường type 2, và nó cũng được thấy là có hiệu quả ở những người mắc hội chứng Dumping khởi phát muộn. Các tác dụng phụ có thể bao gồm đổ mồ hôi, đau đầu, đói đột ngột và yếu.
  • Octreotide (Sandostatin). Thuốc chống tiêu chảy có thể làm chậm quá trình di chuyển thức ăn vào ruột. Dùng thuốc này bằng cách tiêm dưới da. Hãy chắc chắn rằng bạn đã trao đổi với bác sĩ về cách thích hợp để tự-quản lý thuốc, bao gồm cả sự lựa chọn tối ưu cho các đường tiêm. Octreotide mang nguy cơ tác dụng phụ (tiêu chảy, phân cứng, sỏi mật, đầy hơi..) ở một số người, các bác sĩ khuyên bạn rằng nó chỉ dành cho những người không đáp ứng với phương pháp điều trị khác và những người không có chỉ định phẫu thuật.

Phẫu thuật

Các bác sĩ sử dụng một số thủ tục phẫu thuật để điều trị các trường hợp khó khăn của hội chứng Dumping có khả năng kháng nhiều cách tiếp cận cổ điển. Hầu hết các phương pháp này là kỹ thuật tái tạo, chẳng hạn như tái tạo lại môn vị, hoặc đang có ý định đảo ngược phẫu thuật dạ dày.

Ăn uống

Một phương án cuối cùng cho những người không đáp ứng với bất kỳ điều trị khác là đặt một ống vào ruột non thông qua đó các chất dinh dưỡng có thể được vận chuyển.

Lối sống và các biện pháp khắc phục hậu quả tại nhà

Dưới đây là một số lời khuyên về chế độ ăn uống mà bác sĩ đề nghị và bạn có thể tự thực hiện. Chúng có thể giúp duy trì dinh dưỡng tốt và giảm thiểu các triệu chứng bệnh.

  • Ăn những bữa ăn nhỏ hơn. Cố gắng tiêu thụ khoảng sáu bữa nhỏ một ngày thay vì ba bữa lớn.
  • Tránh các chất lỏng trong các bữa ăn. Chỉ uống nước giữa các bữa ăn. Tránh các chất lỏng nửa giờ trước khi ăn và nửa giờ sau khi ăn.
  • Thay đổi chế độ ăn uống của bạn. Tiêu thụ nhiều thực phẩm có hàm lượng thấp carbohydrates, chẳng hạn như ngũ cốc, rau và trái cây chứa tinh bột. Tránh các thực phẩm có đường, bao gồm sucrose, glucose, fructose, dextrose, mật ong và xi-rô ngô. Tiêu thụ protein nhiều hơn. Nhiều người có thể chịu được một phần ăn nhỏ (một nửa chén) của pho mát, sữa hoặc sữa chua
  • Nhai kĩ. Nhai thức ăn thật kỹ trước khi nuốt có thể dễ dàng tiêu hóa.
  • Tăng lượng chất xơ. Psyllium, guar gum và pectin trong thực phẩm bổ sung có thể trì hoãn sự hấp thu carbohydrate trong ruột non. Pectin được tìm thấy trong nhiều loại trái cây, chẳng hạn như đào, táo và mận.
  • Tránh uống rượu.
  • Tránh xa các loại thực phẩm có tính axit. Cà chua và trái cây có thể gây khó tiêu hóa cho một số người.
  • Sử dụng phương pháp nấu ăn ít chất béo. Chuẩn bị thịt và các thực phẩm khác bằng cách luộc, hoặc nướng.
  • Tiêu thụ đầy đủ vitamin, sắt và canxi. Những chất này đôi khi có thể trở nên cạn kiệt sau phẫu thuật dạ dày. Thảo luận về vấn đề dinh dưỡng với các chuyên viên dinh dưỡng.
  • Nằm xuống nghỉ ngơi sau khi ăn. Điều này có thể làm chậm sự di chuyển của thức ăn vào ruột.

Ngay cả với chế độ ăn uống thay đổi, bạn vẫn có thể tiếp tục gặp các triệu chứng liên quan với hội chứng Dumping

 

Nguồn:

http://www.mayoclinic.com/health/dumping-syndrome/DS00715

Read Full Post »

ACHALASIA-CO THT TÂM V

Gii thiu

Mt bnh lý ca thc qun mà ch yếu nh hưng đến thanh thiếu niên. Bt thưng chc năng ca thn kinh và cơ ca thc qun gây khó nut và đôi khi đau ngc. Trào ngưc thc ăn không tiêu có th xy ra, có th ho hoc khó th do thc ăn vào phi. Nguyên nhân do suy yếu  phn dưi ca thc qun và suy cơ tht thc qun dưi đ m và cho phép thc phm đi qua. Chn đoán đưc thc hin bi X-quang, ni soi, hoc đo áp lc thc qun. Điu tr bao gm thuc men, s giãn n (kéo căng) đ m rng phn dưi ca thc qun, và phu thut m phn dưi  thc qun. Mt cách tiếp cn gn đây là tiêm thuc vào phn dưi thc qun đ giãn cơ vòng.

Photobucket

Đnh nghĩa

Achalasia là mt ri lon ca ng dn thc ăn t ming đến d dày (thc qun), nh hưng đến kh năng ca thc qun đ di chuyn thc phm ti d dày

 Photobucket

Nguyên nhân, t l mc, và các yếu t nguy cơ

Vn đ chính trong achalasia là s suy đon vòng cơ nơi thc qun và d dày ni vi nhau (cơ tht thc qun dưi) đ dãn trong quá trình nut .

Mt phn khác ca chng ri lon này là thiếu s kích thích thn kinh đến các cơ ca thc qun. Nguyên nhân bao gm:

  • Ung thư
  • Tn thương  dây thn kinh thc qun ( sợi đối giao cảm của dây X và sợi giao cảm)
  • Nhm ký sinh trùng
  • Sự kích thích của chất trào ngược ( dịch mật dịch vị)
  • Sự nhạy  cảm cảu niêm mạc thực quản đối với chất trào ngược)
  • Phi hp các nguyên nhân trên

 Kết qu là, các cơn co tht dng sóng ca cơ trơn tng đy thc ăn qua thc qun và các b phn khác ca đưng tiêu hóa không làm vic tt. (Nhng cơn co tht này đưc gi là song nhu đng .)

Achalasia là mt ri lon hiếm gp. Nó có th xy ra mi la tui, nhưng ph biến nht ngưi ln tui trung niên tr lên.

Các triu chng

  • Trào ngưc (tr) ca thc phm: không mùi vị, không chua có thể có lẫn thức ăn
  • Đau ngc , có th tăng sau khi ăn hoc lan ra lưng, c và cánh tay
  • Ho
  • Khó nut cht lng và cht rn
  • nóng, ăn không tiêu, buồn nôn
  • St cân không kim soát

Khám thc th có th cho thy du hiu ca thiếu máu.

Kim tra

Xét nghim bao gm:

  • Đo áp lc thc qun
  • Nội soi thực quản
  • X-quang h tiêu hóa (Dưới đây là X-quang càu 1 BN Achalasia)

Photobucket

Điu tr

Phương pháp điu tr nhm mc đích gim áp lc co tht thc qun dưi. Điu tr có th bao gm:

  • Tiêm Botulium ( Botox ). Điu này có th giúp dãn các cơ tht thc qun, nhưng hết tác dng trong vòng mt vài tun hoc vài tháng.
  • Thuc, có tác dng lâu dài như nitrat hoc thuc c chế kênh Canci , có th đưc s dng đ gim áp lc cơ tht thc qun dưi
  • Phu thut có th đưc ch đnh khi cn thiết đ gim áp lc cơ vòng dưi

Phương pháp điu tr nào ph thuc vào tình trang bnh cu bnh nhân

Tiên lưng

Các kết qu ca phu thut và điu tr không phu thut tương t. Đôi khi nhiu hơn mong đi.

Các biến chng

  • Thc ăn có th vào phi, gây ra viêm phi
  • Trào ngưc acid hoc thc ăn t d dày vào thc qun có th gây viêm loét thc qun
  • Loét thực quản có thể gây XHTH
  • Rách (thng) ca thc qun
  • Co rút thực quản (Bracheesophage).
  • Niêm mạc thực quản bị ngắn (Emdobrachyesophage).

Ngun:
http://www.emedicinehealth.com/script/main/art.asp?articlekey=2112

http://healthtools.aarp.org/adamcontent/achalasia?CMP=KNC-360i-YAHOOBING-HEA&HBX_PK=achalasia&utm_source=YAHOOBING&utm_medium=cpc&utm_term=achalasia&utm_campaign=M_Diseases%2Band%2BConditions&360cid=SI_194857955_320874028_1

 

Read Full Post »

Ung thư dạ dày ngày càng trở nên phổ biến và chủ yếu ảnh hưởng đến người lớn tuổi. Hơn hai phần ba người bị ung thư dạ dày đã trên 65 tuổi. Đa số các trường hợp được tìm thấy ở giai đoạn muộn nên thật khó khăn để điều trị. Vì vậy mà tỉ lệ tử vong trở nên cao hơn. Thế nên tìm hiểu về ung thư dạ dày để phát hiện sớm và phòng chống cho bản thân là rất cần thiết.

Ung thư dạ dày là gì?

Ung thư dạ dày là sự tăng trưởng của tế bào ung thư ở niêm mạc và thành dạ dày.

Các triệu chứng của ung thư dạ dày

Đôi khi bệnh ung thư có thể phát triển trong dạ dày một thời gian dài trước khi nó gây ra các triệu chứng. Trong giai đoạn đầu, ung thư dạ dày có thể gây ra các triệu chứng sau đây:

  • Khó tiêu, khó chịu dạ dày hoặc ợ nóng
  • Buồn nôn
  • Mất cảm giác ngon miệng
  • Mệt mỏi

Khi ung thư lớn hơn, nó có thể gây ra các triệu chứng sau đây:

  • Máu trong phân hoặc phân có màu đen
  • Một cảm giác cồng kềnh sau khi ăn, ngay cả khi ăn một lượng nhỏ
  • Ói mửa sau bữa ăn
  • Sụt cân ngoài ý muốn
  • Đau bụng, đặc biệt là sau bữa ăn
  • Sự yếu ớt và mệt mỏi

Nhiều triệu chứng trên được gây ra bởi các bệnh khác hơn là ung thư. Tuy nhiên, nếu bạn có bất kỳ những triệu chứng trên nào thì nên chú ý. Ung thư dạ dày nếu được phát hiện sớm thì cơ hội điều trị sẽ cao hơn

Nguyên nhân

Cơ hội bị ung thư dạ dày cao hơn nếu đã có nhiễm trùng dạ dày gây ra bởi vi khuẩn gọi là Helicobacter pylori. Ngoài ra các yếu tố sau đây cũng tạo nguy cơ cao:

  • Đã có viêm dạ dày
  • Có một người thân đã có ung thư dạ dày
  • Khói thuốc lá
  • Lạm dụng rượu
  • Là một người Mỹ gốc Phi, gốc Tây Ban Nha Mỹ, người Mỹ gốc Á Thái Bình Dương
  •  Có polyp dạ dày
  • Là nam giới

Chẩn đoán và xét nghiệm

Nội soi để kiểm tra được lựa chọn đầu tiên. Một ống sáng, mỏng sẽ được đặt vào miệng của bệnh nhân để vào dạ dày.

Trong quá trình nội soi có thể sinh thiết một mẫu của dạ dày để kiểm tra các tế bào ung thư. Mẫu này sau đó được gửi đến một phòng thí nghiệm, nơi nó được nhìn dưới kính hiển vi để xác định xem nó có phải là ung thư.

Điều trị

Điều trị ung thư dạ dày bao gồm phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hoặc kết hợp các phương pháp điều trị. Việc lựa chọn điều trị phụ thuộc vào loại ung thư là chỉ trong dạ dày hoặc nó đã lan rộng đến những nơi khác trong cơ thể. Tuổi tác và sức khỏe tổng thể cũng sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn điều trị.

Phòng chống

Không có cách nào để ngăn chặn ung thư dạ dày. Tuy nhiên, có thể giúp giảm nguy cơ ung thư dạ dày bằng cách không hút thuốc và hạn chế uống rượu. Ngoài ra, một chế đọ ăn uống giàu trái cây tươi và rau quả nhiều vitamin C có thể giảm nguy cơ bị ung thư dạ dày. Vitamin C được tìm thấy trong thực phẩm như cam, bưởi, bông cải xanh.

Nguồn:

http://familydoctor.org/familydoctor/en/diseases-conditions/stomach-cancer.printerview.all.html

http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/stomachcancer.html

Read Full Post »

Bất cứ lúc nào một phần cơ thể bên trong vượt ra ngoài thành giam giữ vào trong một khu vực nơi mà nó không thuộc về thì được gọi là thoát vị.

Thoát vị hoành là 1 sự gián đoạn của cơ hoành (cơ tách khoang ngực và bụng). Thông thường, thực quản đi xuyên qua cơ hoành và đổ vào dạ dày, trong một thoát vị hoành dạ dày phình lên vào ngực thông qua sự gián đoạn đó của cơ hoành (thoát vị)

Có hai loại chính của thoát vị hoành:

–         Thoát vị trượt: đường giao nhau của dạ dày và thực quản trượt lên vào ngực thông qua chỗ thoát vị. Đây là loại phổ biến nhất của thoát vị hoành

–         Thoát vị chèn: ít phổ biến hơn, nhưng là nguyên nhân cho mối quan tâm. Thực quản và dạ dày ở trong vị trí bình thường của nó, nhưng một phần của dạ dày ép vào thực quản thông qua chỗ thoát vị. Mặc dù có thể có thoát vị nhưng lại không có bất kỳ triệu chứng, nguy hiểm là dạ dày có thể trở thành siết lại, có nghĩa là nguồn cung cấp máu của nó sẽ bị cắt.

Thông thường, những người có thoát vị hoành có các triệu chứng thường hay bị ợ nóng hoặc bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD). Mặc dù có một mối liên hệ giữa các triệu chứng này nhưng không nhất thiết bất cứ thoát vị hoành nào cũng sẽ như vậy, vì một số người có thể có một thoát vị hoành mà không bị GERD, và ngược lại.

Nguyên nhân gây thoát vị hoành

Trong hầu hết các bệnh nhân, nguyên nhân không được biết đến, nhưng một thoát vị hoành thường là kết quả của nhiều yếu tố. Một số người phát hiện thoát vị hoành sau khi chịu một thương tích hay một áp lực dai dẳng trên các vùng xung quanh. Những người khác thì khi sinh ra đã có một điểm yếu hoặc một lỗ khuyết đặc biệt lớn. Một số chuyên gia nghi ngờ rằng áp lực tăng lên trong khoang bụng từ ho, việc rặn trong thời gian đi tiêu, mang thai và sinh đẻ, hoặc cả việc tăng cân đáng kể có thể đóng góp vào sự phát triển của một thoát vị hoành.

Ai có nguy cơ bị thoát vị hoành ?

Thoát vị hoành xảy ra thường xuyên hơn ở những người trên 50 tuổi, những người thừa cân (đặc biệt là phụ nữ), và những người hút thuốc.

Các triệu chứng của một thoát vị hoành:

Nhiều người không gặp bất kỳ triệu chứng liên quan đến thoát vị hoành.

Khi triệu chứng xảy ra, có thể liên quan đến trào ngược dạ dày và bao gồm ợ nóng, ợ chua, khó nuốt, đầy hơi, ợ hơi, hoặc đau, khó chịu ở dạ dày hay thực quản.

Một số người bị thoát vị hoành có thể bị đau ngực và dễ dàng bị nhầm lẫn với một cơn đau tim. Điều quan trọng là cần phải làm các xét nghiệm để chẩn đoán và điều trị.

Khi đã được chẩn đoán thoát vị hoành và có kèm theo cảm giác buồn nôn hoặc nôn, bí đại tiện hoặc trung tiện thì có thể đó là một thoát vị nghẹt hay tắc nghẽn. Đây là những trường hợp khẩn cấp và cần được can thiệp khẩn.

Chẩn đoán thoát vị hoành:

Một thoát vị hoành có thể được chẩn đoán dựa trên một phim X-Quang có bơm thuốc cản quang cho phép quan sát được thực quản, hoặc với nội soi thực quản.
                     

Điều trị thoát vị hoành:

Nhiều người không gặp bất kỳ triệu chứng liên quan thoát vị hoành của họ, do đó những trường hợp này điều trị là không cần thiết.
Khi các triệu chứng nhẹ xảy ra – chẳng hạn như chứng ợ nóng, đầy hơi hoặc khó chịu dạ dày – một thoát vị hoành có thể được điều trị thành công bằng cách thay đổi lối sống:

–         Giảm cân nếu đang thừa cân, và duy trì cân nặng khỏe mạnh

–         Có một chế độ ăn uống phù hợp, chẳng hạn như ăn uống vừa phải nhiều loại thực phẩm và hạn chế các loại thực phẩm béo, thực phẩm có tính axit (chẳng hạn như cà chua và trái cây chua hoặc nước ép trái cây), thực phẩm có chứa caffeine, và đồ uống có cồn

–         Không nên nằm ngay sau bữa ăn mà ít nhất từ 3-4 tiếng sau bữa ăn và không nên ăn nhẹ trước khi đi ngủ

–         Nâng cao đầu giường khoảng 6 inches (điều này sẽ giúp cho trọng lực giữ thức ăn ở  yên trong dạ dày)

–         Không hút thuốc

–         Dùng các thuốc tự mua, chẳng hạn như các thuốc kháng acid, Gaviscon, hoặc ức chế H2 (như Pepcid AC hoặc Zantac). Nếu bạn sử dụng thuốc lâu hơn hai tuần mà không có bất cứ cải thiện nào thì hãy đi khám bác sĩ để có thể được kê toa một loại thuốc mạnh hơn giúp kiểm soát các triệu chứng của bạn.

Nếu thoát vị hoành phức tạp với các triệu chứng nặng của GERD hoặc nếu các triệu chứng và xét nghiệm cho thấy thoát vị chèn (một phần của dạ dày bị ép thông qua chỗ thoát vị) thì phẫu thuật có thể được khuyến cáo.

Khi nào phẫu thuật cần thiết?

Phẫu thuật được chỉ định ở những bệnh nhân với một thoát vị hoành có các triệu chứng kéo dài:

–         Trào ngược dạ dày hoặc GERD – triệu chứng ợ nóng, nôn, khó nuốt đã không được điều trị thành công với các thuốc uống.

–         Thoát vị chèn hoặc tắc nghẽn – triệu chứng bao gồm cảm giác no sớm (làm đầy lên nhanh chóng), đau khi ăn uống, buồn nôn hoặc nôn mửa, Không đi đại tiện hay trung tiện được.

Phẫu thuật thoát vị hoành đôi khi có thể được thực hiện bằng phương pháp nội soi ít xâm lấn với sự hồi phục nhanh hơn so với phẫu thuật thoát vị hoành truyền thống.

Sau khi phẫu thuật, không đảm bảo rằng các thoát vị sẽ không tái phát và việc giảm tăng cân sẽ làm giảm nguy cơ tái phát.

Nguồn:

http://my.clevelandclinic.org/disorders/hiatal_hernia/ts_overview.aspx

http://www.mayoclinic.com/health/hiatal-hernia/DS00099/DSECTION=symptoms

Read Full Post »

I. ĐỊNH NGHĨA:

Thoát vị hoành là sự nhô lên của phần trên của dạ dày thông qua cơ hoành. Điều này có nghĩa là một phần của dạ dày bất thường nhô ra vào trong khoang lồng ngực. Mặc dù hầu hết các trường hợp đều nhẹ và phần lớn không có triệu chứng, trong trường hợp nghiêm trọng thoát vị hoành có thể gây khó chịu và đau đớn, có thể dẫn đến trào ngược. Sự gia tăng của acid dạ dày có tính axit trào ngược vào thực quản, dẫn đến các biến chứng khác ở dạ dày, họng.

II. CƠ CHẾ:

Thông thường dạ dày nằm hoàn toàn trong khoang bụng, ngay dưới cơ hoành. Thực quản đi từ họng, thông qua khoang ngực và đi vào ổ bụng thông qua một lỗ trên cơ hoành. Thực quản sau đó tiếp nối với dạ dày, do đó bất kì thức ăn nào được đưa vào cơ thể đều xuống dạ dày. Một van được gọi là LES (cơ vòng thực quản dưới) sẽ mở ra để cho phép thức ăn vào dạ dày và đóng lại ngay lập tức để ngăn chặn trào ngược thức ăn và dịch lên thực quản.

Cơ hoành của con người là một cơ phẳng, chịu trách nhiệm chính cho việc hô hấp. Cơ hoành cũng được dùng để tách biệt các cơ quan trong khoang ngực với các cơ quan trong khoang bụng. Tuy nhiên cơ hoành cũng có một số lỗ nhỏ cho phép các cấu trúc quan trọng như thực quản, mạch máu và dây thần kinh đi từ khoang ngực đến khoang bụng. Ngoài ra, không cho bất kì cấu trúc nào khác đi qua. Dạ dày là một cơ quan lớn, do đó không thể đi qua cơ hoành.

Lỗ mở của cơ hoành được tăng cường bằng các sợi cơ, bảo đảm rằng những lỗ này không dãn hoặc trở nên lớn dần theo thời gian. Vì vậy không có cơ quan nào có thể đi từ khoang bụng đến khoang ngực hoặc ngược lại. Tuy nhiên, có những hoàn cảnh nhất định, một người có thể bẩm sinh có các lỗ mở lớn hơn bình thường, hoặc một số vấn đề nào đó có thể khiến lỗ này dãn rộng ra. Trong những trường hợp này, ngay cả khi chỉ có một sự gia tăng nhỏ về kích thước của lỗ mở cũng có thể dẫn đến các bệnh như thoát vị hoành.

III. NGUYÊN NHÂN:

  • Tuổi có thể dẫn đến yếu cơ và mất tính đàn hồi của mô khắp cơ thể có thể làm suy yếu sự gia cố xung quanh các lỗ cơ hoành, do đó dần dần lỗ này có thể bị dãn rộng và lớn dần theo thời gian. Đây là lý do tại sao chứng thoát vị dạ dày là phổ biến hơn ở người lớn tuổi, đặc biệt là sau tuổi 50/
  • Tăng áp lực trong ổ bụng có thể đẩy dạ dày chui qua lỗ mở cơ hoành. Sau đây là các yếu tố làm tăng áp lực:
  • Mang thai
  • Béo phì
  • Cổ chướng
  • Có sự gồng căng liên tục (gặp trong táo bón).
  • Khuyết tật bẩm sinh.
  • Thực quản bị rút ngắn, dẫn đến viêm thực quản tái phát.

IV. PHÂN LOẠI:

Có ba loại thoát vị hoành:

  • Thoát vị trượt (loại 1)
  • Thoát vị lăn tròn (loại 2)
  • Thoát vị hỗn hợp (loại 3)

Sơ đồ A là dạ dày bình thường. Sơ đồ B là thoát vị trượt giai đoạn đầu. Sơ đồ C là thoát vị trượt điển hình. Sơ đồ D là thoát vị trượt cạnh bên,

Thoát vị trượt:

Nơi mà dạ dày tiếp nối với thực quản được gọi là “ngã ba dạ dày”. Đây cũng là vị trí của cơ thắt thực quản dưới (LES), Thoát vị trượt xảy ra khi một phần của thực quản bị kéo lên vào trong khoang ngực, dẫn đến kéo theo một phần của dạ dày. Sự khác biệt áp lực lúc này có thể dẫn đến rối loạn chức năng của LES. Hầu hết các thoát vị hoành đều ở dạng này.

Thoát vị cạnh bên:

Đây là một loại hiếm thấy của thoát vị. Ở đây, chỗ nối dạ dày thực quản vẫn ở vị trí bình thường của nó, nhưng một khiếm khuyết trong việc mở cơ hoành khiến phần trên của dạ dày nhô vào trong khoang ngực. Ít thấy hơn nữa là một phần của ruột hoặc thậm chí lá lách có thể nhô ra thông qua lỗ này. Cũng có thể gọi đây là thoát vị lăn tròn vì đáy của dạ dày có thể lăn ra vào khoang ngực.

Thoát vị hỗn hợp:

Đây là một sự kết hợp của thoát vị trượt và thoát vị lăn tròn. “Ngã ba dạ dày” bị kéo lên trên khoang ngực cùng với phần đáy của dạ dày có thể lăn ra hoặc vào khoang ngực.

V. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG:

Hầu hết các thoát vị hoành là chứng thoát vị không có triệu chứng. Nó có thể không có triệu chứng trong nhiều tháng đến nhiều năm hoặc thậm chí trong suốt cuộc đời. Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng tăng lên với kích thước của thoát vị. Những triệu chứng này bao gồm:

  • Ợ hơi nhiều
  • Ợ nóng
  • Đau thượng vị
  • Buồn nôn
  • Trào ngược dạ dày – thực quản
  • Khó nuốt
  • Thay đổi khẩu vị ăn uống

Cơn đau thoát vị:

Đau do thoát vị hoành có thể kéo dài từ ngực đến góc phần tư phía trên bên trái bụng. Phần lớn là do sự trào ngược acid dẫn đến đau ngực (ợ nóng). Xoắn và chướng bụng của phần đệm thoát vị cũng có thể gây ra đau bụng trên bên trái. Cơn đau có thể nặng hơn sau khi ăn hoặc uống các thức uống có gas.

Nôn mửa:

Trào ngược dạ dày đôi khi có thể bị nhầm lẫn với nôn mửa. Trào ngược là thụ động trục xuất các chất trong dạ dày so với quá trình mạnh mẽ nh7 nôn. Triệu chứng này phổ biến trong các trường hợp nghiêm trọng của một thoát vị dạ dày. Nôn mửa cũng có thể xảy ra khi cơn buồn nôn dữ dội hơn sau bữa ăn. Ngoài ra nôn có thể làm thoát vị trở nên trầm trọng hơn do có gia tăng áp lực trong ổ bụng.

VI. CHẨN ĐOÁN:

  • X-quang sử dụng cản quang.
  • GI nội soi
  • Đo áp lực

VII. ĐIỀU TRỊ:

Việc điều trị thoát vị hoành phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng này.

  • Thoát vị không có triệu chứng không cần điều trị.
  • Thoát vị nhẹ đến trung bình có triệu chứng thoát vị có thể được kiểm soát với những thay đổi trong lối sống và thuốc men.
  • Thoát vị nặng có thể cần phải phẫu thuật.

Những thay đổi chế độ ăn uống và lối sống cho thoát vị hoành giống như những người bị trào ngược acid.

VIII. PHẪU THUẬT:

Phẫu thuật để điều trị thoát vị hoành được dành riêng cho những trường hợp nặng không đáp ứng với thay đổi lối sống và thuốc men. Nó cũng được chỉ định cho trường hợp có những biến chứng của thoát vị hoành và đặc biệt là trào ngược acid. Các thủ tục phẫu thuật bao gồm phẫu thuật nội soi Nissen và sửa chữa thoát vị nội soi.

Phẫu thuật nội soi Nissen: Phần đáy của dạ dày sẽ được quấn quanh đoạn cuối của thực quản. Đó là phẫu thuật được lựa chọn trong hầu hết các trường hợp thoát vị hoành. Phẫu thuật này cũng được sử dụng cho bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).

Sửa chữa thoát vị nội soi được thực hiện bằng các phương tiện của một mạng lưới tổng hợp để gia cố cho khu vực sau khi đã loại bỏ phần thoát vị khỏi khoang lồng ngực.

 

Nguồn:

http://www.healthhype.com/stomach-hernia-symptoms-types-treatment-surgery-video.html#more-20526

Read Full Post »

VẾT RÁCH MALLORY – WEISS (VẾT RÁCH DẠ DÀY –THỰC QUẢN)

Ruột người cho phép chúng ta lấy thức ăn, nước uống và tiêu hóa chúng vì vậy chúng ta có thể lấy các chất dinh dưỡng mà cơ thể cần. Sản phẩm thừa trong đường tiêu hóa sau đó được thải ra ngoài dưới dạng phân. Toàn bộ đường tiêu hóa kéo dài từ miệng đến trực tràng. Một số chỗ nối nhau của đường ruột có thể bị rách. Một trong những vùng có nguy cơ rách cao nằm ở phần trên của đường tiêu hóa, giữa thực quản (ống dẫn thức ăn) và dạ dày. Nếu bạn đã bị nôn ói và đột nhiên thấy máu đỏ tươi trong chất nôn, đó có khả năng rằng bạn đã bị một vết rách trong ống tiêu hóa, được biết đến như là vết rách Mallory – Weiss.

VẾT RÁCH MALLORY – WEISS LÀ GÌ?

Vết rách Mallory – Weiss là một vết rách bên trong thành của ống tiêu hóa trên, xung quanh vùng tiếp giáp giữa dạ dày và thực quản. Nó có thể diễn ra ở:

+ phần dưới của thực quản (nơi mà nó vừa vào dạ dày).

+ phần trên của dạ dày (phần mà thực quản đã gắn vào).

+ vùng mà dạ dày và thực quản nối nhau.

Nó có xu hướng phát sinh cùng với sự buồn nôn và nôn ói dữ dội, nhưng thường là có vấn đề với vùng này của đường tiêu hóa, như là sự suy yếu của thành ống tiêu hóa, được biết đến như sự thoát vị khe thực quản. Chỗ đó có thể lớn hơn gia tăng sự chảy máu từ vết rách và trong những trường hợp nặng nó có thể dẫn tới sự suy giảm thể tích máu nghiêm trọng. Hầu hết phân nửa trong tất cả các trường hợp xảy ra với việc dùng quá mức rượu bia, thứ đã gây ra buồn nôn và nôn ói dữ dội.

TỔN THƯƠNG DO VẾT RÁCH MALLORY – WEISS

Vết rách Mallory Weiss là 1 vết rách dài ở thực quản hoặc dạ dày. Những vết rách này là những đường phát sinh với một lực co thắt của sự nôn ói. Có một số lí do lý giải tại sao vết rách Mallory Weiss có thể xảy ra trong nôn ói. Bình thường trong quá trình nôn, thành ống tiêu hóa co thắt theo nhiều hướng khác nhau. Điều này đẩy thức ăn ngược ống tiêu hóa – từ ruột non, vào dạ dày, thực quản và lên tới cuống họng và khoang miệng. Đó là một quá trình rất mạnh mẽ và thành ống tiêu hóa phải chịu rất nhiều áp lực.

Vết rách có thể xảy ra khi:

+ Một phần ống tiêu hóa như phần thấp của thực quản không co dãn đủ để chống lại áp lực của việc nôn ói.

+ Một phần của dạ dày nằm bất thường trong khoang ngực có áp suất thấp, việc rách sẽ dẽ dàng với một áp suất cao của việc nôn ói.

+ Phần trên dạ dày gấp vào thực quản với lực đẩy của sự nôn.

NGUYÊN NHÂN GÂY RA VẾT RÁCH

Vết rách xảy ra với việc tăng áp lực ổ bụng, có thể phát sinh bên trong ống tiêu hóa hoặc từ bên ngoài. Vì thế một vài nguyên nhân gây ra vết rách có thể gồm:

+ Nôn ói quá nhiều.

+ Buồn nôn.

+ Nấc cục.

+ Ho liên tục.

+ La hét quá nhiều.

+ CPR (hồi sức tim phổi).

CÁC NGUY CƠ

Vết rách Mallory-Weiss có nguy cơ cao xảy ra ở những người có một hoặc nhiều yếu tố sau đây:

+ Thoát vị khe thực quản

+ Uống quá nhiều rượu

+ Sử dụng chất có tính gây nôn mửa mạnh.

+ Viêm dạ dày – ruột

+ Tắc nghẽn dạ dày

+ Tắc ruột

+ Viêm thực quản

+ Viêm gan

+ Các bệnh đường mật

+ Suy thận

+ Rối loạn ăn uống

+Rối loạn đông máu, sử dụng các thuốc có ảnh hưởng đến đông máu như aspirin và warfarin.

+ Thai nghén nặng.

+ Tăng áp lực nội sọ.

 

CÁC TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG

Triệu chứng điển hình nhất của Mallory-Weiss là nôn ra máu và đi tiêu ra máu. Một số triệu chứng khác cũng có thể gặp là:

–          Đau bụng.

–          Đau vùng xương ức.

–          Ăn uống khó tiêu.

–          Ngất.

–          Nhịp tim tăng nhanh.

–          Huyết áp tụt.

–          Sốc vì mất máu.

Nôn ra máu là triệu chứng thường gặp nhất của vết rách Mallory-Weiss. Những chất nôn đầu tiên có thể không có máu, nhưng sau đó, chất nôn có thể lẫn máu. Ban đầu, nôn ra máu có thể không phải là do vết rách Mallory-Weiss, nhưng có thể là nguyên nhân gây ra vết rách. Thông thường, máu nôn ra có màu đỏ tươi bởi vì máu không bị trộn lẫn với các enzymes và acid dạ dày.

Phân lẫn máu cũng có thể gặp nhưng ít gặp hơn nôn ra máu. Thông thường, máu chảy ra từ vết rách, xuống ống tiêu hóa và đại tràng. Nếu như lượng máu chảy ra quá nhiều, sẽ khiến phân có màu đen và đặc lại. Khi chảy máu và nhiều và nhu động ruột tăng cao, chẳng hạn như trong tiêu chảy, máu có thể xuống đại tràng nhanh chóng hơn. Lúc này, phân có màu đỏ tươi.

 

CHẨN ĐOÁN

Sử dụng các công cụ chẩn đoán để xem xét xuất huyết tiêu hóa trên là rất quan trọng, bởi vì có thể có nhiều nguyên nhân khác gây ra xuất huyết ngoài vết rách Mallory-Weiss
.
CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

Đây là những nguyên nhân có thể gây ra các triệu chứng tương tự như vết rách Mallory-Weiss và cần phải được phân biệt:

+ Viêm thực quản.
+ Loét dạ dày
+ Hội chứng Boerhaave (thủng thực quản).

Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác dẫn đến nôn ra máu cần phải đuọc xem xét kĩ lưỡng.

 

CÁC XÉT NGHIỆM

                              

Phương pháp chẩn đoán chính xác nhất là nội soi để xác định đó có phải là vết rách Mallory-Weiss hay không. Sử dụng một ống dài có gắn một máy quay phim và ánh sang ở một đầu và đưa ống đó vào cơ thể qua đường miệng, xuống thực quản. Tổn thương Mallory-Weiss nhìn thấy giống như là một vết rách dài khoảng 2 – 3 cm và rộng khoảng vài mm. Những xét nghiệm khác, ví dụ như xét nghiệm máu, cũng có thể sử dụng để đánh giá mức độ mất máu và kiểm tra tình trạng sức khỏe bệnh nhân.

ĐIỀU TRỊ
Một vết rách Mallory-Weiss thường tự lành ngay trong vòng một vài ngày, thường là ngay sau 2-3 ngày. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải loại bỏ những yếu tố nguy cơ có khả năng làm bệnh trầm trọng thêm. Điều này có thể được thực hiện nhờ sử dụng thuốc và một vài thay đổi trong chế độ ăn uống. Nếu mất máu quá nhiều, bệnh nhân sẽ cần được nhỏ giọt IV để bù nước và thậm chí cả truyền máu trong các trường hợp nghiêm trọng.
THUỐC

Các thuốc sử dụng đều không đặc hiệu cho vết rách Mallory-Weiss.

– Các loại thuốc ức chế tiết acid như thuốc ức chế bơm proton (PPI) và thụ thể H2 giúp giảm acid trong dạ dày.
– Thuốc chống nôn để ngăn chặn buồn nôn và ói mửa.

Bất kỳ loại thuốc nào có thể làm tăng nguy cơ chảy máu hoặc làm tăng mức độ nghiêm trọng của mất máu như chất làm loãng máu có thể cần phải được dừng lại ngay lập tức. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân cần sử dụng các loại thuốc đó để điều trị một loại bệnh mạn tính nào đó, thì phải dung dưới sự giám sát của bác sĩ.
CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG

Một người đã mất một lượng máu đáng kể cần nhịn ăn trước khi có hướng dẫn của bác sĩ. Bởi vì nội soi chẩn đoán yêu cầu bệnh nhân phải nhịn ăn. Sau đó mới bù lượng dịch đã mất sau. Thông thường không có một chế độ ăn uống nào cụ thể trong trường hợp bệnh nhân có vết rách Mallory – Weiss, trừ trường hợp bệnh nhân bị viêm dạ dày – ruột.
PHẪU THUẬT

Phẫu thuật ít khi cần thiết trong trường hợp vết rách Mallory-Weiss vì vết thương tự lành trong vài ngày. Phương pháp đốt điện, YAG laser và liệu pháp xơ hóa có thể ngăn chặn chảy máu nghiêm trọng và kéo dài liên tục.

Tuy nhiên, nếu bệnh không tự lành và vẫn tiếp tục chảy máu, cần phải sử dụng các liệu pháp cầm máu để bù lại lượng máu đã mất. Chỉ khi các phương pháp nội soi và liệu pháp cầm máu không mang lại kết quả mong muốn, lúc đó có thể tiến hành may vết rách.

TIÊN LƯỢNG
Tiên lượng cho một vết rách Mallory-Weiss là rất tốt và hầu hết các trường hợp chảy máu đều tự dừng lại mà không có bất kỳ điều trị gì. Tái phát cũng ít xảy ra. Chỉ có một số nhỏ bệnh nhân có thể có mất máu đáng kể, do đó đòi hỏi phải truyền máu, hoặc gây ra sốc. Ngoài ra cũng có nguy cơ gây ra thiếu máu cơ tim cục bộ, dẫn đến đau tim.
PHÒNG CHỐNG

Không có biện pháp phòng ngừa cụ thể trong nhiều trường hợp bởi vì vết rách tự xuất hiện mà không có dấu hiệu báo trước. Tái phát không phổ biến, nhưng bệnh nhân có rối loạn ăn uống và nghiện rượu cần lưu ý về nguy cơ của một vết rách tái phát, nếu như những bệnh nhân này vẫn tiếp tục những hành vi có thể dẫn đến nôn mửa. Bệnh nhân với thoát vị khe thực quản hoặc các yếu tố nguy cơ khác nên được điều trị để ngăn ngừa vết rách xuất hiện.

 

Read Full Post »

Older Posts »