Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Chấn thương’ Category

Gãy xương xảy ra khi có 1 lực mạnh hơn sức chịu đựng của xương tác động lên xương. Xương là 1 dạng mô liên kết được phát triển cứng thêm bởi Calci & tế bào xương. trong xương có 1 phần ở giữa mềm được gọi là tủy xương (là nơi TB máu được tạo ra). Chức năng chính của bộ xương gồm: nâng đỡ, cử động & bảo vệ những tạng dễ bị tổn thương bên tron. Có nhiều loại gãy xương khác nhau (tùy theo độ nặng). Những yếu tổ ảnh hưởng lên độ nặng của gãy xương: mức độ & hướng của lực, xương bị gãy, tuổi tác & sức khỏe của bệnh nhân. Những vị trí thường gặp của gãy xương gồm: xương cổ tay, cổ chân, xương chậu. Gãy xương chậu thường xảy ra nhất là ở người lớn tuổi. Xương gãy mất từ 4-8tuần để liền xương. Thời gian liền xương tùy theo tuổi, thể trạng & loại xương gãy.

Triệu chứng:

Triệu chứng của gãy xương phụ thuộc vào xương bị gãy & mức độ gãy, thường gồm: đau, sưng, bầm, biến dạng, mất chức năng chi.

Các loại gãy xương:

Các loại xương gãy khác nhau bao gồm:

– Gãy “cành tươi”: xương gãy nhỏ. Thường gặp ở trẻ em (do tính đàn hồi của xương trẻ em nhiều hơn so với xương người lớn)

– Gãy nát: xương bị vỡ thành nhiều mảnh nhỏ. Loại gãy xương phức tạp này có khuynh hướng lành chậm hơn.

– Gãy kín: xương gãy không xuyên vào da

– Gãy hở: Mảnh xương gãy chọc thủng qua da. Hoặc mảnh xương gãy không chọc thủng qua da nhưng có vết thương khiến chỗ gãy thông ra ngoài. Loại gãy này có nguy cơ nhiễm trùng cao.

– Gãy bệnh lý: Xương bị yếu do nhiều bệnh lý khác nhau (như loãng xương hoặc ung thư) có khuynh hướng gãy khi bị tác động bởi lực rất nhẹ.

– Gãy lún: xảy ra khi 2 xương đè lên nhau. Các đốt sống thì dễ bị gãy kiểu này. Người lớn tuổi và người loảng xương thì thường có nguy cơ bị gãy kiểu này.

– gãy bong: các cơ thì bám vào xương bởi gân, Co cơ quá mạnh có thể làm gân bong ra cùng 1 miếng xương. Loại gãy này thường gặp ở khớp gối & khớp vai.

Biến chứng

Các biến chứng bao gồm:

– Mất máu: xương được cấp máu rất nhiều & trường hợp gãy xương nặng có thể gây mất nhiều máu.

– Chấn thương các tạng: như não (trong trường hợp vỡ xương sọ)

hoặc các cơ quan ở ngực nếu gãy xương sườn

– Chậm phát triển: gãy xương dài ở một em bé thì xương dài đó sẽ không phát triển với kích thước bình thường nếu chấn thương đó ở gần khớp.

– Không liền xương hoặc liền xương xấu: những mảnh xương gãy có thể không liền hoặc liền nhưng liền không tốt. Cả 2 trường hợp này đều có thể gây đau, mất chức năng chi đó, giảm biên độ cử động của khớp. Sẽ có cuộc mổ thứ 2 để điều trị biến chứng này.

Sơ cứu

Những đề nghị đối với việc điều trị sơ bộ 1 trường hợp gãy xương gồm:

– Không di chuyển bệnh nhân trừ khi có nguy hiểm tức thì đối với bệnh nhân, đặc biệt trong trường hợp nghi ngờ vỡ xương sọ, xương sống, xương sường, xương chậu & xương chi trên.

– Chăm sóc vết thương đang chảy máu: cầm máu bằng cách ép vào chỗ chảy máu bằng băng sạch. Nếu xương lòi ra ngoài, ép chung quanh bờ vết thương.

– Nếu cầm máu rồi thì đậy vết thương bằng băng sạch.

– Không cố làm vết thương thẳng ra

– Đối với gãy xương chi, nâng chi gãy lên và đặt vật mềm bên dưới cẳng chân/cẳng tay. Làm nhẹ nhàng và đừng gây ra những cử động không cần thiết cho xương gãy.

– Đặt nẹp để cố định chi

– Bất động vùng gãy bằng đai quàng (cánh tay). Chi nên được bất động ở trên và dưới chỗ gãy.

– Nếu có thể nên kê cao chỗ gãy và chườm lạnh để giảm đau & sưng.

– Không cho bệnh nhân ăn hoặc uống bất cứ thứ gì cho đến khi bác sĩ đến khám (hoặc chuẩn bị mổ)

Chẩn đoán & điều trị

   

     

Gãy xương được chẩn đoán bằng XQuang. CT & MRI có thể được sử dụng. Xương gãy có thể tự lành. Mục đích của việc điều trị nhằm bảo đảm 2 mảnh xương gãy có thể ép vào nhau 1 cách chính xác. Chụp XQuang sau đó để theo dõi qua trình liền xương. Tùy theo vị trí & mức độ gãy. Các phương pháp điều trị gồm:

– Nẹp: để cố định chi gãy

– Nẹp để hỗ trợ chi

– Bó bột: để nâng đỡ và bất động xương

– Kéo: phương pháp này ít phổ biến

– Xuyên đinh nội tủy (phẫu thuâ) hoặc nẹp inox

– Giảm đau

 

http://en.wikipedia.org/wiki/Bone_fracture

http://www.medicalnewstoday.com/articles/173312.php

Read Full Post »

GÃY XƯƠNG HỞ

Nếu xương gẫy đến nỗi mà một mảnh xương dính qua da hoặc vết thương xuyênUnlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

qua các xương bị gãy, thì nó được gọi là “hở” hoặc gãy xương hỗn hợp. Ví dụ, khi người đi bộ bị đập bởi người uống rượu đang lái xe, xương chày bị gãy có thể nhô ra thông qua một vết rách trên da và mô mềm khác.
Bởi vì gãy xương hở thường bao gồm nhiều sự phá hủy đển các cơ bắp xung quanh, gân và dây chằng hơn gãy xương kín, chúng có nguy cơ cao bị biến chứng và mất một thời gian lâu hơn để chữa lành.
Đây là loại gãy xương là đặc biệt nghiêm trọng bởi vì một khi da bị phá vỡ, nhiễm trùng vết thương và xương có thể xảy ra.

I.Nguyên nhân
Gãy xương mở được gây ra bởi chấn thương mạnh, thông thường nhất  từ một cú đánh mạnh trực tiếp, chẳng hạn như ngã xe hay va chạm xe cộ.
Những kiểu gãy xương này cũng có thể xảy ra gián tiếp, chẳng hạn như là chấn thương xoắn với lực mạnh.

II.Mô tả

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Trong gãy xương hở, kết thúc vỡ xương chày làm rách qua các mô mềm và nhô ra da.
Bởi vì năng lượng cần thiết để gây ra những loại gãy xương, bệnh nhân thường có tổn thương thêm, một số đó có khả năng đe dọa tính mạng – yêu cầu điều trị. Có một tỷ lệ 40% đến 70% chấn thương liên quan một nơi khác trong cơ thể khi có một vết nứt hở.
Gãy xương hở có thể thay đổi đáng kể mức độ nghiêm trọng. Ví dụ, một gãy xương hở có thể là một vết thương nhỏ tí chỉ một vài mm đường kính. Xương có thể hoặc không thể nhìn thấy trong vết thương. Gãy xương hở có thể tiếp xúc với rất nhiều xương và cơ bắp, và có thể gây tổn thương nghiêm trọng dây thần kinh và mạch máu xung quanh.
Gãy xương hở tượng trưng cho hình ảnh của chấn thương: Thứ nhất, vấn đề cơ bản của gãy xương; thứ hai,sự tiếp xúc của các xương bị gãy đến vật xung quanh, và do đó, nhiễm trùng của các phần xương gãy.

1.Gãy xương và bị thương

Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của gãy xương hở. Ví dụ, các xương có thể bị gãy ngang qua, dọc xuống, và  một vài miếng riêng. Các mảnh xương có thể là rất sắc bén và có thể làm rách qua các mô mềm từ bên trong.
Một cú đánh trực tiếp có thể làm rách và nghiền nát da và mô mềm, cũng như xương. Nếu xương vỡ tan, có thể có vô số các mảnh vỡ có thể đâm thủng vào các mô thần kinh và các mô mềm xung quanh.

2.Môi trường nhiễm.
Môi trường gãy xương bị bộc lộ sẽ tác động  đến mức độ ô nhiễm như bụi bẩn, kính vỡ, hoặc vải có thể bị đẩy vảo trong  vết thương. Biết được nơi mà chấn thương xảy ra – một chuồng, vùng công nghiệp, thành phố đường phố, chiến trường – giúp cho bác sĩ có cái nhìn rõ hơn về những gì các loại chất gây nhiễm  vết thương  mà bi bộc lộ ra bên ngoài.
3.Sự nhiễm trùng
Mặc dù gãy xương hở được liên tưởng với một tỷ lệ nhiễm trùng khá cao, điều này phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Nói chung, sự hủy hoại  càng lớn thì xương, mô mềm, dây thần kinh, và mạch máu, càng có nguy cơ cao nhiễm trùng.
Một nhiễm trùng xương có thể là khó khăn để loại bỏ. Nó có thể yêu cầu điều trị kháng sinh dài hạn, cũng như phẫu thuật nhiều lần. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, cắt bỏ chi bị nhiễm khuẩn là cách duy nhất để ngăn chặn nhiễm trùng. Ngăn ngừa nhiễm trùng là trọng tâm của điều trị sớm cho gãy xương hở.

III.Sự kiểm tra và điều trị ban đầu của bác sĩ
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Trong phòng cấp cứu, bác sĩ sẽ đánh giá và làm ổn định tất cả các dấu hiệu quan trọng và kiểm tra các thương tích phụ. Anh ta hoặc cô ta sẽ cần phải biết làm thế nào chấn thương xảy ra, cũng như nếu bạn có bất kỳ vấn đề y tế khác, chẳng hạn như bệnh tiểu đường. Bác sĩ cũng cần phải biết nếu bạn có uống bất cứ loại thuốc nào.
Bác sĩ sẽ tiến hành một cuộc kiểm tra toàn diện xương gãy, và đánh giá các mô mềm, dây thần kinh và mạch máu tổn thương.
Hầu hết gãy xương hở là hiển nhiên bởi vì xương có thể nhìn thấy hoặc nhô ra qua da hoặc bên trong vết thương. Một số vết nứt hở là tinh tế hơn. Vì vậy, khi có bất kỳ vết thương trong cùng một khu vực gãy xương, nó được giả định là gãy xương hở.
Gãy xương hở nên được xử lý càng sớm càng tốt. Mục tiêu của bác sĩ là  ngăn chặn nhiễm trùng vì nhiễm trùng có thể ngăn cản chữa xương và có thể dẫn đến cắt cụt chi.

1.      Thuốc kháng sinh và uốn ván
Kháng sinh được bắt đầu càng sớm càng tốt trong phòng cấp cứu. Mức độ nghiêm trọng của chấn thương xác định các thuốc kháng sinh được đưa ra. Trừ khi bạn đã chích ngừa uốn ván trong vòng 5 năm chấn thương, nếu không bạn cũng sẽ được tiêm ngừa nó.
2.Xét nghiệm
X-quang sẽ cho bác sĩ thấy gãy xương phức tạp như thế nào. Những hình ảnh này cho thấy có bao nhiêu mảnh xương, cũng như quy mô độ dịch chuyển (khoảng cách giữa các mảnh vỡ).
Xét nghiệm máu và nước tiểu có thể cung cấp cho bác sĩ những thông tin quan trọng về sức khỏe chung của bạn.
3.Cố định vết thương
Trong khi ở phòng cấp cứu, vết thương của bạn sẽ được bao phủ bằng một băng khử trùng. Bác sĩ sẽ nhẹ nhàng đưa xương vào thẳng hàng để ngăn chặn các mảnh vỡ gây hư hại thêm cho các mô mềm. Sau đó bác sĩ sẽ dùng một thanh nẹp chân tay bị thương của bạn để bảo vệ và giữ cho nó không di động cho đến khi bạn được đưa đến phẫu thuật.

IV. Điều trị
Mục tiêu  điều trị gãy xương hở là ngăn chặn nhiễm trùng, chữa lành xương bị gãy, và phục hồi chức năng.

1.Mổ cắt lọc và rửa vết thương
Các bước đầu tiên trong việc kiểm soát nguy cơ nhiễm trùng là cắt lọc và rửa vết thương
Mổ cắt lọc. Trong thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật  sẽ loại bỏ tất cả bụi bẩn và vật lạ, cũng như da bị nhiễm và không sống, cơ bắp, và các mô mềm khác. Xương cũng được làm sạch của tất cả các bụi bẩn và các vật liệu lạ khác. Bất kì mảnh xương nào rời ra đều được loại bỏ. Mảnh xương bị nhiễm nghiêm trọng cũng bị loại bỏ. Mất xương có thể được điều chỉnh sau đó với ca phẫu thuật bổ sung.

Rửa vết thương. Sau khi mổ, vết thương đựoc làm sạch và rửa bằng vài lít nước muối.

2.Điều trị xương gãy
Điều quan trọng là cố định xương gãy càng sớm càng tốt để ngăn ngừa tổn thương mô mềm nhiều hơn. Các xương gãy trong gãy xương hở được giữ chắc tại chỗ  bằng cách sử dụng các phương pháp cố định bên ngoài hay bên trong. Những phương pháp này cần phải phẫu thuật.

Cố định bên trong. Trong ca phẫu thuật, các mảnh xương vỡ đầu tiên được đặt lại  vào trong xương bình thường của họ, và sau đó giữ chặt cùng với các ốc vít đặc biệt hoặc bằng cách gắn các tấm kim loại với mặt ngoài của xương. Các mảnh vỡ cũng có thể được gắn  với nhau bằng cách đặt một thanh qua tủy ở trung tâm xương. Những phương pháp điều trị có thể đặt lại vị trí các mảnh vỡ xương rất chính xác.
Bởi vì gãy xương hở có thể bao gồm tổn thương mô và được đi kèm với tổn thương phụ, có thể mất nhiều thời gian trước khi phẫu thuật cố định bên trong có thể được thực hiện một cách an toàn. Câu hỏi bác sĩ sẽ xem xét khi lập kế hoạch điều trị gãy xương bao gồm:

• Những gì bệnh nhân có thể chịu đựng được?
• Cái gì mà  vết thương và các mô mềm có thể chịu đựng được?
• Điều gì là cần thiết để cố định xương?

Cố định bên ngoài. Tùy thuộc vào vết thương của bạn, bác sĩ có thể sử dụng phương pháp cố định bên ngoài để giữ xương liên kết với nhau. Trong phương pháp này, đinh ghim hoặc ốc vít được đặt vào xương bị gãy ở trên và dưới phần gãy. Sau đó, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình đặt lại các mảnh vỡ. Các đinh ghim hoặc ốc vít được nối với một thanh kim loại hoặc thanh bên ngoài da. Thiết bị này là một khung cố định để giữ xương ở vị trí thích hợp.

Gãy xương hở nhỏ. Đối với thương tích ít nghiêm trọng với khả năng nhiễm trùng rất thấp,xương gãy có thể được cố định bằng phương pháp cố định bên trong một khi vết thương đã được loại bỏ mô hoại tử triệt để.Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Trẻ gãy xương hở được nói đến trước

đó trong bài viết này đã được điều trị

với thanh kim loại đóng vào xương chày.

Trong thủ thuật này, thanh đã được đặt

trung tâm của xương để giữ các mảnh vỡ tại chỗ.

 

 

Gãy xương hở nghiêm trọng. Gãy xương hở nặng được cố định bằng cách sử dụng phương pháp cố định bên ngoài. Điều này sẽ giữ cho xương ở tại chỗ cho đến khi vết thương có thể chịu đựng được một quy trình cố định bên trong .
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Trong gãy xương hở nghiêm trọng như trong hình, các bác sĩ phẫu thuật

chỉnh hình đóng vết thương bằng các mũi khâu sau khi mở vết thương và cố định bên ngoài.

Vết thương phức tạp. Trong một số trường hợp gãy xương hở, rất nhiều mô mềm đã bị mất và vết thương quá lớn không đóng lại được.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Tùy thuộc vào số lượng các mô mềm bị mất, những vết thương phức tạp có thể được phủ bằng nhiều phương pháp khác nhau

• Vạt cục bộ. Các mô cơ từ chi liên quan được xoay quanh các xương gãy. Một miếng da được lấy từ một vùng khác của cơ thể (ghép) được đặt  trên này.
• Vạt tự do. Một số vết thương có thể cần phải chuyển mô hoàn toàn. Mô này thường được lấy từ lưng hoặc bụng. Quá trình lấy vạt mô để che phủ yêu cầu sự trợ giúp của bác sĩ mạch máu để đảm bảo các mạch máu được thông nối và tuần hoàn được thành lập.

Trong những vết thương phức tạp , che phủ tạm thời xương gãy phải được thành lập để làm nguy cơ nhiễm trùng và đẩy mạnh quá trình lành vết thương. Trong những trường hợp này, nhiều loại băng có thể được sử dụng, nhưng đôi khi vết thương được bịt kín bằng vật liệu bán thấm cho đến khi quá trình đóng mô mềm. Các hạt kháng sinh thường được đặt vào vết thương  để cung cấp kháng sinh nồng độ cao  trực tiếp đến vết thương.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Hạt kháng sinh có thể được sử dụng để giúp ngăn ngừa nhiễm trùng vết thương tạm thời trong phạm vi vết thương.

V. Các biến chứng

Gãy xương hở là chấn thương nặng và vì thế, biến chứng nghiêm trọng được đi kèm với chúng:

• Nhiễm trùng là biến chứng thường gặp nhất của gãy xương hở. Nhiễm trùng có thể xảy sớm, trong giai đoạn chữa trị gãy xương, hoặc thậm chí sau đó. Nói chung, mức độ tổn thương mô mềm càng lớn, nguy cơ nhiễm trùng càng cao. Nếu nhiễm trùng trở thành mãn tính (viêm tủy xương), nó có thể dẫn đến phẫu thuật nhiều lân nữa  và cắt bỏ chi.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

• Gãy xương hở có thể khó khăn trong điều trị. Nếu xương gãy không thể lành lại, phẫu thuật có thể được yêu cầu thêm. Phẫu thuật để thúc đẩy chữa bệnh thường bao gồm việc ghép  xương trên các chỗ đứt gãy, cũng như các phương pháp mới cố định bên trong.

• Hội chứng ngăn cấp tính có thể  tiến triển. Đây là một tình trạng đau đớn xảy ra khi áp lực trong cơ bắp đến mức nguy hiểm. Trừ khi áp lực được giảm xuống một cách nhanh chóng, nếu không tình trạng khuyết tật vĩnh viễn và  chết mô có thể xảy ra

VI. Phục hồi
Phải mất bao lâu để trở lại hoạt động hàng ngày sẽ thay đổi tùy thuộc vào loại gãy xương và mức độ nghiêm trọng của vết thương. Thông thường nó có độ cứng, sự khó chịu, và yếu trong vài tháng sau khi bị thương.

Điều trị thành công gãy xương cũng phụ thuộc rất lớn vào sự hợp tác của bạn. Các bài tập trong quá trình chữa trị và sau khi xương lành là cần thiết để giúp khôi phục lại sức mạnh cơ bắp bình thường, cử động khớp và tính linh hoạt. Bác sĩ sẽ cung cấp cho bạn với một kế hoạch tập thể dục phục hồi chức năng, hoặc đề nghị vật lý trị liệu.
Bác sĩ  sẽ nói chuyện với bạn về mối quan tâm và mong đợi của bạn. Họ cũng sẽ nói chuyện về những  tác động của  vết thương có thể có lên hoạt động hàng ngày, công việc, trách nhiệm gia đình, và vui chơi giải trí.

VII.Nghiên cứu

Có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành điều trị gãy xương hở. Một số các nghiên cứu hiện hành điều tra:

• Đóng xương gãy
• Thời gian mổ mô hoại tử
• Thời gian che phủ mô mềm
• Việc sử dụng dụng cụ ngâm tẩm thuốc kháng sinh
Các bác sĩ đang tích cực tìm kiếm mới, cách tiếp cận hiệu quả để điều trị các vết thương đầy thử thách.

Nguồn http://orthoinfo.aaos.org/topic.cfm?topic=A00582

Read Full Post »

GIỚI THIỆU

Hội chứng Ehlers-Danlos là một hội chứng mang tính di truyền. Hội chứng được phân thành các thể khác nhau với nhiều biểu hiện lâm sàng đặc trưng tùy theo kiểu di truyền. Da, mô dễ tổn thương và khớp lỏng lẻo là các triệu chứng điển hình do bệnh lý liên quan đến bộ gen di truyền dẫn đến việc sản xuất các collagen bất thường. ( collagen chính là protein liên kết của mô).
Hội chứng ảnh hưởng đến cả nam và nữ thuộc mọi chủng tộc trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh vẫn chưa xác định chính xác được, nhưng ước tính khoảng 1/ 5000.

PHÂN LOẠI
Có sáu thể lâm sàng chính của hội chứng Ehlers-Danlos với các triệu chứng khác nhau

thể cổ điển: da có thể co giãn quá mức bất thường, vết sẹo rộng, tăng độ biên độ cử động của khớp

thể dẻo dai: các khớp rất dẻo dai, da co giãn nhiều,mịn và mượt như nhung.

thể mạch máu: động mạch / ruột / tử cung dễ tổn thương, dễ bị bầm tím, khuôn mặt rất đặc trưng.

thể gù vẹo cột sống: giảm trương lực cơ nặng ở trẻ sơ sinh, vẹo cột sống bẩm sinh, củng mạc dễ tổn thương

thể lỏng khớp: khớp cử động quá  mức bình thường nên thường  dễ bị trật khớp, đặc biệt là trật khớp hông 2 bên bẩm sinh.

thể da: da rất mỏng manh, độ đàn hồi kém, nhiều mẩu da thừa.

TRIỆU CHỨNG
Hội chứng Ehlers-Danlos có thể ảnh hưởng đến da, khớp và mạch máu
DA

co giãn quá mức
da rất đàn hồi là đặc trưng của tất cả các thể của hội chứng Ehlers Danlos, trừ thể mạch máu , trong đó đáng chú ý là da mỏng đến độ có thể nhìn thấy tĩnh mạch bên dưới rất rõ. Khi da bị kéo dãn quá mức, nó vẫn có khả năng trở lại bình thường sau khi thả tay.Điều này có thể thử nghiệm ở da cổ, da khuỷu tay hoặc ở đầu gối.


Da mỏng
da dễ bị trầy sướt, đặc biệt thường thấy  trong thể cổ điển. Vết sẹo “hình miệng cá” hay vết sẹo “giấy gói thuốc lá” nổi bật ở các phần xương cơ thể dễ bị chấn thương như cằm, trán, khuỷu tay, đầu gối và cẳng chân.

vết sẹo ở người mắc hội chứng Ehlers Danlos

nhiều nếp nhăn da
Đây là những nếp da đối xứng ở hai bên mắt và có khi mở rộng hơn đến mũi.
các giả u
Đây là những khối u xơ 2 – 3 cm xuất hiện ở phần cơ thể phải chống đỡ nhiều lực như khuỷu tay, cổ tay và đầu gối.

nốt hình cầu
Khoảng 1/3 bệnh nhân  xuất hiện ở dưới da những nốt được mô tả như hòn bi.Đó là sự tích tụ của chất béo lẫn xơ và canxi  trên bề mặt xương.
nốt sần
Là những u nhỏ, mềm, màu sậm xuất hiện gần gót chân khi đứng và biến mất khi bàn chân được nâng lên, thỉnh thoảng có thể gây đau.

Giãn tĩnh mạch

 – KHỚP
Khớp lỏng lẻo do những dây chằng  tăng tính đàn hồi bởi sự collagen bất thường.
đó là nguyên nhân mà bệnh nhân rất dễ bị trật khớp dễ chấn thương hơn những người không mắc hội chứng Ehlers  Danlos. Những người ở thể mạch máu thường không có dấu hiệu lâm sàng này.
Đau là một triệu chứng phổ biến với thể khớp cử động , ngay cả khi kết quả X-quang xương không ghi nhận bất thường.

– Bầm tím và tụ máu
bầm tím là dấu hiệu lâm sàng của  hầu hết các thể, đó thường là kết quả của một chấn thương nhẹ gây ra bởi sự mỏng manh của các mao mạch dưới da cũng như cấu trúc da không toàn vẹn.

 Tim
Sa Van hai lá khá phổ biến và cần được chẩn đoán bằng siêu âm tim, CT hoặc MRI.
– Tâm lý
Vấn đề chính của hội chứng Ehlers Danlos là bệnh nhân trông rất cân đối và họ thường  không nhận thấy bản thân thường bị đau khớp. Việc chẩn đoán thường bị trì hoãn và chẩn đoán nhầm tương đối phổ biến.
Trường hợp có sự xuất hiện của sẹo bất thường ở da nghiêm trọng và người bệnh cần phải học để thích nghi với tình trạng biến dạng

Triệu chứng không điển hình khác:
– Vỡ động mạch, tử cung và ruột có thể xảy ra do sự mỏng manh của mô. Triệu chứng thường thấy trong thể  mạch máu, nhưng cũng có thể xảy ra trong các thể khác. Thoát vị bẹn và thoát vị nghẹt cũng tương đối phổ biến.
– Vẹo cột sống  xuất hiện sau khi sinh hoặc có thể khi trưởng thành.
– bệnh về nướu.
– xuất hiện nhiều túi thừa ống tiêu hóa

CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán dựa trên các triệu chứng đã trình bày và tiền căn gia đình của bệnh nhân.Tuy nhiên, nhiều trường hợp không phù hợp hoàn toàn với những triệu chứng của một thể đặc hiệu nên thường bị chẩn đoán nhầm.
Các triệu chứng lâm sàng như khớp lỏng và tính chất da bất thường cùng với tiền căn gia đình, có thể chẩn đoán là hội chứng Ehlers Danlos.
Xét nghiệm đặc hiệu, chẳng hạn như sinh thiết da có thể chẩn đoán được một số thể nhất định  của hội chứng, bao gồm thể mạch máu, thể lỏng khớp và thể da. Sinh thiết trên da chính là việc lấy  một mẫu nhỏ của da và quan sát cấu trúc vi thể của nó. Xét nghiệm nước tiểu dùng cho chẩn đoán thể gù vẹo cột sống.
Nếu một cặp vợ chồng đã có một đứa trẻ mắc hội chứng Ehlers Danlos thì xác suất mắc bệnh của đứa con tiếp theo phụ thuộc vào đứa trẻ trước đó mắc thể nào và cha mẹ có mắc  thể tương tự hay không. Cá nhân mang loại gen trội NST thường của hội chứng có 50% di truyền cho  đứa trẻ trong mỗi lần mang thai. Đối với cá nhân mang loại gen lặn NST thường của hội chứng thì xác suất đứa con bị bệnh là rất thấp

ĐIỀU TRỊ
điều trị dựa vào các triệu chứng và cố gắng ngăn ngừa các biến chứng. Cho đến nay thì hội chứng Ehlers Danlos vẫn chưa có cách chữa trị
Điều quan trọng là phải cố định khớp, mặc dù phẫu thuật đôi khi là cần thiết để điều trị tổn thương do trật khớp diễn ra thường xuyên.  Bệnh nhân tập vật lí trị liệu để tăng sức cơ quanh các khớp và có thể giúp ngăn ngừa hoặc hạn chế tổn thương.
Phẫu thuật loại bỏ những vết sẹo cũng được thực hiện nhằm mục đích thẩm mĩ.

BIẾN CHỨNG

 Biến chứng của gây mê, mặc dù hiếm gặp nhưng có thể xảy ra trong hội chứng Ehlers-Danlos.

Trong thể mạch máu,  bệnh nhân có nguy cơ xuất hiện biến chứng cao hơn, mạch máu có thể vỡ tự phát, và dễ chấn thương cột sống và đường hô hấp.Trường hợp xuất huyết cũng được ghi nhận.

TIÊN LƯỢNG
Tiên lượng phụ thuộc vào thể bệnh nhân đã mắc.Tuổi thọ bệnh nhân của thể mạch máu thường rút ngắn khoảng 40 năm do vỡ các mạch máu lớn và tổn thương cơ quan quan trọng. Mang thai có thể nguy hiểm đến tính mạng trong thể cổ điển và thể mạch máu. Hầu hết các thể khác của hội chứng, bệnh nhân thường không bị rút ngắn tuổi thọ

Nguồn:

http://www.ehlers-danlos.org/index.php/ehlers-danlos-syndrome-mainmenu-17

http://emedicine.medscape.com/article/1114004-overview

http://www.ehlersdanlosnetwork.org/typesofehlersdanlos.html

Ảnh:

http://medicalimages.allrefer.com/large/ehlers-danlos-hyperelasticity-of-the-skin.jpg

http://www.google.com.vn/imgres?hl=vi&client=firefox-a&hs=g6t&sa=X&rls=org.mozilla:vi:official&channel=np&biw=1280&bih=858&tbm=isch&prmd=imvns&tbnid=Kspm8PFTg08_JM:&imgrefurl=http://pleasetapemebacktogether.blogspot.com/p/h-eds_05.html&docid=czjkLFRnYM2ivM&imgurl=http://www.derma-rollers.com/wp-content/gallery/photographs/atrophic-scar-copy.jpg&w=348&h=423&ei=_dzBT8ONOsTYigf3nOWSCg&zoom=1&iact=hc&vpx=668&vpy=133&dur=1067&hovh=248&hovw=204&tx=113&ty=115&sig=117781972889791374982&page=1&tbnh=155&tbnw=128&start=0&ndsp=23&ved=1t:429,r:3,s:0,i:73

http://www.biomedsearch.com/nih/Reverse-namaskar-new-sign-in/20418985.html

http://www.huidziekten.nl/zakboek/dermatosen/ptxt/Piezogenepapels.htm

http://www.bernsteinmedical.com/resources/publications/scalp-laxity-paradox/

 http://www.jrheum.org/content/36/8/1847/F2.large.jpg

http://epharmapedia.com/img/diseases/1277026450.jpg

http://www.netterimages.com/images/vpv/000/000/000/399-0550×0475.jpg

Read Full Post »

VỠ LÁCH

I. TỔNG QUAN

Lách với trọng lượng 75-150 g là một cơ quan giàu mạch máu, giữ chức năng lọc khoảng 10-15% thể tích máu toàn phần mỗi phút. Trung bình, lách có thể dự trữ 40-50 mL hồng cầu, tuy nhiên, với những thay đổi của cơ trơn, nó có thể chứa một lượng máu nhiều hơn đáng kể. Đến 25% tiểu cầu trong tuần hoàn được ước tính là dự trữ ở lách. Mặc dù được bảo vệ trong khung sườn ở góc trên bên trái của bụng, nó thường xuyên bị chấn thương bởi vết thương kín. Nó cũng có thể bị chấn thương trong phẫu thuật khẩn cấp, đặc biệt khi sự dính chặt của lách làm cho việc tách các cấu trúc trong ổ bụng trở nên khó khăn.

Do chức năng miễn dịch của lách, mối quan tâm trong thế kỷ qua đã chuyển sang bảo tồn lách hơn là cắt bỏ lách. Sự ra đời của CT đã làm cho việc kiểm soát bệnh nhân chấn thương lách trở nên thiết thực hơn và an toàn hơn. CT đã tạo điều kiện quản lí an toàn, không cần phẫu thuật ở những bệnh nhân trẻ và già đến mức độ đáng ngạc nhiên, tuy nhiên, tử vong do vỡ lách vẫn được báo cáo trong thống kê xuất viện từ trung tâm cấp cứu chấn thương và các bệnh viện địa phương.

III. NGUYÊN NHÂN

Chấn thương lách thường gặp trong vết thương kín. Mặc dù vết thương xuyên thấu ( ví dụ như súng bắn, dao đâm) có thể liên quan đến lách, khả năng chấn thương lách vẫn thấp hơn so với ruột non và ruột già. Một cơ chế thứ ba là kết hợp vết thương kín và vết thương xuyên thấu, gặp trong chiến tranh và đánh bom dân thường.

Mặc dù lách được bảo bệ tương đối trong khung sườn, chấn thương do giảm tốc độ nhanh chóng, chẳng hạn như tai nạn giao thông, hoạt động ngoài trời như chạy xe đạp, thường dẫn tới một loạt các chấn thương lách.

Những bệnh tật sẵn có có thể tăng đáng kể yếu tố nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của chấn thương lách. Viêm tuyến bạch cầu truyền nhiễm, sốt rét, các bất thường về huyết học có thể đẫn đến  lách to cấp hay mạn tính.Nó thường đi kèm với mỏng vỏ bao, làm cho lách mỏng manh hơn, cũng như gây ảnh hưởng lớn hơn trong chấn thương do giảm tốc đột ngột.  Tác động nhỏ ở những bệnh nhân có lách to có thể dẫn đến chấn thương nghiêm trọng và cần thiết phải cắt bỏ lách.

Một nguyên nhân khác của chấn thương lách đã được lưu ý. Các nhà nghiên cứu tìm thấy trên 66 bệnh nhân (độ tuổi trung bình 65), với tỉ lệ tử vong 4,5%, vỡ lách đã xảy ra khi nội soi đại tràng. Các triệu chứng chủ yếu (74%) xuất hiện trong vòng 24 giờ đầu. Ngoài ra, hơn một nửa (56,1%) bệnh nhân trải qua phẫu thuật bụng và cắt lách (47%) được phát hiện tụ máu lách (47%), rách (47%) và vỡ (33.3%). Các nhà nghiên cứu công nhận rằng biến chứng vỡ lách sau soi đại tràng là một biến chứng quan trọng đang tăng lên, dù vậy nội soi đại tràng vẫn cần thiết để chẩn đoán bệnh về đại tràng và việc chẩn đoán muộn sẽ đẫn đến những biến chứng nghiêm trọng.

V. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG

Biểu hiện lâm sàng của chấn thương lách rất đa dạng. Hầu hết bệnh nhân với chấn thương lách khu trú than phiền về đau bụng ở một phần tư góc trên bên phải. Kết quả của sự kích thích rễ cảm giác của dây thần kinh dưới hoành có thể gây đau vai trái.

Khi tràn máu tự do màng bụng, có nhiều khả năng đau bụng lan tỏa, cảm ứng phúc mạc, phản ứng thành bụng. Nếu chảy máu trong ổ bụng vượt quá 5-10% khối lượng máu, dấu hiệu sốc có thể xuất hiện. Dấu hiệu bao gồm nhịp tim nhanh, thở nhanh, bồn chồn và lo lắng. Bạn bè và gia đình có thể thấy bệnh nhân hơi xanh xao. Với mất máu ngày càng tăng vào ổ bụng, có thể quan sát thấy bụng chướng, dấu hiệu phúc mạc, sốc.

Tuột huyết áp ở bệnh nhân nghi ngờ chấn thương lách, đặc biệt nếu bệnh nhân trẻ khỏe mạnh là một dấu hiệu nghiêm trọng phải phẫu thuật cấp cứu.  

VI. CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH

Chẩn đoán hình ảnh có thể giúp chẩn đoán vỡ lách. CT scan bụng là một trong những phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Trong khi chụp, một chất đặc biệt gọi là chất cản quang được tiêm vào tĩnh mạch, thường ở cánh tay. Độ cản quang giúp xác định số lượng máu chảy từ lách. Chảy máu lách có thể không nhìn thấy được trên CT scan không có cản quang.

Tuy nhiên, CT scan bụng chỉ được thực hiện nếu thời gian cho phép. CT scan có cản quang có thể mất một thời gian, và một số người bị vỡ lách đã chết trong khi chờ đợi để có kết quả. Vì lý do này, CT không được khuyến cáo cho những người vỡ lách có dấu hiệu sinh tồn không ổn định hoặc huyết áp thấp do chấn thương (chẳng hạn như sốc).

Những người khác dị ứng với CT có cản quang hoặc không thể hấp thu được nó bởi vì thận không hoạt động tốt.

Trong những trường hợp này, các xét nghiệm khác có thể được sử dụng để giúp chẩn đoán vỡ lách. Chúng bao gồm:

Kỹ thuật siêu âm bụng tập trung (FAST). Đây là một phương pháp siêu âm để kiểm tra tụ dịch trong ổ bụng. Nó có thể được sử dụng để giúp chẩn đoán lách bị vỡ ở những bệnh nhân sinh hiệu không ổn định, nhưng các nghiên cứu đã nhận thấy CT vẫn tốt hơn trong trường hợp khẩn cấp.

Rửa phúc mạc chẩn đoán. Đây là một phương pháp để nhanh chóng xác định tụ máu ổ bụng. Nó nhanh chóng và không tốn kém, và có thể được thực hiện trên bệnh nhân bị vỡ lách, người có huyết áp thấp.

MRI bụng. Đây có thể là một lựa chọn cho bệnh nhân suy thận hoặc những người có dị ứng nghiêm trọng với chất cản quang được sử dụng trong CT.

Nếu bệnh nhân ổn định và không cần phẫu thuật khẩn cấp, xét nghiệm máu toàn phần hoặc nồng độ hemoglobin có thể được thực hiện thường xuyên để theo dõi mất máu.

Nguồn:

Bài viết:

http://emedicine.medscape.com/article/432823-workup#a0722

http://www.webmd.com/digestive-disorders/ruptured-spleen?page=2

Hình ảnh:

http://sophismata.wordpress.com/2009/08/05/on-the-virtue-of-the-spleen/

http://www.trauma.org/index.php/main/image/544/C13

http://www.knoxvillecriminallaw.com/motorcycle-accident.html

Read Full Post »

HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP (ACUTE RESPIRATORY DISTRESS SYNDROME: ARDS)

I. TỔNG QUAN

Hội chứng suy hô hấp cấp (ARDS), là tình trạng của phổi, dẫn đến sự thiếu hụt oxy trong máu.

Suy hô hấp cấp được đặc trưng bởi triệu chứng khó thở, tiến triển trong vòng vài giờ đến vài ngày, sau một sự kiện kích động: chấn thương, nhiễm trùng, dùng thuốc quá liều, truyền máu lượng lớn, viêm tụy cấp…

Trong phần lớn trường hợp, nguyên nhân ban đầu khá rõ ràng, tuy nhiên, trong các trường hợp khác (dùng thuốc quá liều), nguyên nhân cơ bản lại khó xác định. ARDS thường tiến triển từ 12-48 giờ sau sự kiện kích động, mặc dù trong vài trường hợp hiếm hoi, nó có thể mất vài ngày. ARDS là bệnh nhiêm trọng, thường gây suy nhiều hệ cơ quan. Đó là tình trạng đe dọa tính mạng, do đó, nhập viện là cần thiết.

ARDS có liên quan đến chấn thương nghiêm trọng và lan toản màng mao mạch phế nang của phổi. Dịch tích tụ trong một số phế nang, trong khi các phế nang khác bị xẹp. Tổn thương ở phế nang này cản trở việc trao đổi oxy và carbon dioxit, dẫn đến giảm nồng độ oxy trong máu. Lượng oxy máu giảm gây thiệt hại đến các cơ quan thiết yếu khác của cơ thể như thận, tim…

ARDS xảy ra ở trẻ em cũng như người lớn. Tần số ước tính hàng năm của các ca suy hô hấp cấp được báo cáo là 75 ca trên 100.000 dân (Hoa Kỳ), tỷ lệ tử vong khoảng 30-40%, tỷ lệ này tăng dần theo tuổi tác.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY RA HỘI CHỨNG

Nhiều yếu tố, nguyên phát hoặc thứ phát, có thể làm tổn thương phổi và dẫn đến suy hô hấp cấp. Các tác nhân thường gặp là:

– Nhiễm trùng huyết (sự hiện diện của các vi sinh vật khác nhau, hoặc độc tố của chúng, trong máu hoặc mô).

– Chấn thương nghiêm trọng (đặc biệt là gãy nhiều xương), chấn thương đầu nghiêm trọng, và chấn thương ngực.

– Dùng thuốc quá liều.

– Viêm phổi.

– Chảy máu trầm trọng do chấn thương.

– Hít thở khói độc hại.

-…

Lý do vì sao một số người bệnh nặng hoặc bị thương nặng lại mắc phải hội chứng suy hô hấp cấp trong khi những người khác thì không vẫn chưa được sáng tỏ. Các nhà nghiên cứu đang tìm hiểu nguyên nhân gây ra ARDS và cách thức ngăn chặn nó.

III. AI CÓ NGUY CƠ BỊ SUY HÔ HẤP CẤP ?

Những người có bệnh lý hay yếu tố, nguyên phát hoặc thứ phát làm tổn thương phổi đều có nguy cơ suy hô hấp cấp:

1. Tổn thương nguyên phát:

–  Viêm phổi.

– Hít thở khói độc hại hay hút thuốc lá.

– Sặc phải dịch dạ dày trong lúc nôn.

– Sử dụng máy thông khí. Đây là dụng cụ giúp bệnh nhân hô hấp dễ dàng hơn; đôi khi, nó có thể làm tổn thương phổi.

– Suýt chết đuối.

2. Tổn thương thứ phát:

– Nhiễm trùng huyết (sự hiện diện của các vi sinh vật khác nhau, hoặc độc tố của chúng, trong máu hoặc mô).

– Chảy máu trầm trọng do chấn thương.

– Truyền máu lượng nhiều.

– Chấn thương đầu hoặc ngực.

– Viêm tụy cấp.

– Tắc mạch do mỡ. Đây là tình trạng mạch máu bị thuyên tắc bởi các khối mỡ. Một chấn thương, ví dụ như gãy xương, có thể gây tắc mạch do mỡ.

– Dùng thuốc quá liều.

IV. CÁC DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG CỦA SUY HÔ HẤP CẤP

Các dấu hiệu và triệu chứng đầu tiên của suy hô hấp cấp là cảm giác không thể có đủ không khí trong phổi, thở nhanh, nồng độ oxy trong máu giảm.

Các dấu hiệu và triệu chứng khác phụ thuộc vào nguyên nhân gây suy hô hấp. Chúng có thể xuất hiện trước khi bệnh nhân bị suy hô hấp. Ví dụ, trong bệnh lý viêm phổi, bệnh nhân có thể ho và sốt trước khi thấy khó thở.

Đôi khi bệnh nhân suy hô hấp cũng có các triệu chứng như hạ huyết áp, rối loạn, và suy kiệt. Điều này báo động rằng các cơ quan của cơ thể, như thận và tim, không nhận được đủ máu giàu oxy.

Hầu hết những bệnh nhân suy hô hấp cấp nhập viện vì những vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác. Hiếm khi những người được nhập viện lại không có yếu tố dẫn đến suy hô hấp, như viêm phổi nặng.

V. CHẨN ĐOÁN HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP

Dựa vào bệnh sử, thăm khám lâm sàng và kết quả cận lâm sàng.

1. Bệnh sử

Khai thác những yếu tố nguy cơ đang có hoặc đã có nghi ngờ dẫn đến ARDS (xem danh sách các yếu tố dẫn độ ở phần II, III).

Bác sĩ cũng cần quan tâm đến các bệnh lý về tim mạch, chẳng hạn như suy tim, có thể gây tích tụ dịch trong phổi.

2. Khám lâm sàng

ARDS có thể gây nên những âm thở bất thường, ví dụ như ran ẩm. Nghe bằng ống nghe để phát hiện những âm thanh này. Ngoài ra cũng cần nghe tim và tìm các dấu hiệu tụ dịch bất thường tại các bộ phận khác trong cơ thể. Tụ dịch bất thường có thể nói lên rằng bệnh nhân đang có vấn đề về tim hay thận.

Tìm dấu hiệu xanh tái trên da và niêm mạc. Đây là dấu hiệu có thể có của suy hô hấp cấp.

3. Các xét nghiệm để chẩn đoán:

– Phân tích khí máu động mạch để phát hiện sự thiếu hụt oxy máu (giảm nồng độ oxy trong máu).

– Công thức máu  hoàn chỉnh cũng có thể được thực hiện. Số lượng bạch cầu tăng trong nhiễm trùng huyết.

– X-quang ngực cho thấy sự hiện diện của chất lỏng trong phổi.

– CT scan ngực được chỉ định chỉ trong một vài trường hợp (trong hầu hết các trường hợp, X-Quang ngực thường quy cũng đủ để chẩn đoán).

– Siêu âm tim có thể giúp loại trừ bất kỳ vấn đề nào về tim có thể gây ra tụ dịch trong phổi.

– Nội soi phế quản (thủ thuật giúp quan sát bên trong khí quản và các đường dẫn khí lớn) có thể được cân nhắc để đánh giá khả năng nhiễm trùng ở phổi.

* Nguồn: http://www.emedicinehealth.com/acute_respiratory_distress_syndrome/article_em.htm#ARDS%20Overview

                      http://www.medicinenet.com/ards/page4.htm#tocg

Read Full Post »

Định nghĩa :

  • Abscess cơ Psoas là một nhiễm trùng của cơ Psoas (cơ thắt lưng) ,chạy từ vùng giữa – thấp lưng vào khung xương chậu và đùi. Cơ Psoas là cơ mạnh nhất ở vùng đùi, đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc đi đứng, chạy, đá và đúng dậy khi đang ngồi. 1 Abscess cơ Psoas gồm ổ viêm, đồng thời với việc dày lên và tích tụ mủ ở vỏ bọc màng bao quanh cơ khi có sự xâm nhập của vi khuẩn. Abscess cơ Psoas có thể xảy ra ở một hoặc 2 bên, mặc dù Abscess cơ Psoas ở 2 bên chỉ chiếm 3%

  • Có 2 loại Abscess cơ Psoas, đó là Abscess cơ Psoas do sự nhiễm trùng không rõ nguồn gốc (sơ cấp) và Abscess cơ Psoas xảy ra như 1 hậu quả của nhiễm trùng xảy ra từ 1 cơ quan liền kề (thứ cấp). Có đến 90% các trường hợp Abscess cơ Psoas sơ cấp là do cùng 1 loại vi khuẩn gây ra – Staphylococcus aureus, ngoài ra, Abscess cơ Psoas sơ cấp còn do 1 số loại vi khuẩn khác gây ra, như : Escherichia coli, Haemophilus influenza, Proteus mirabilis, Pasteurella multocida, and Salmonella Newport. Abscess cơ Psoas thứ cấp thường do sự kết hợp của các vi khuẩn khác nhau : Escherichia coli, bacteroides, staphylococcus, and streptococcus
  • Đến giờ ,người ta vẫn chưa thể nói được nguyên nhân chính của việc gây Abscess cơ Psoas, tuy nhiên chấnthương cơ bắp có thể là một yếu tố quan trọng trong 18% đến 20% trường hợp. Một yếu tố nguy cơ chính cho Abscess cơ Psoas  là bệnh đường tiêu hóa(bệnh viêm ruột, viêm ruột thừa, viêm túi thừa, ung thư ruột, bệnh Crohn). Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm bệnh lao, nhiễm trùng thận (thận), bệnh bạch cầu mãn tính, bệnh Henoch Schonlein ban xuất huyết, viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm tụy, bệnh tiểu đường nhiễm trùng huyết và nhiễm trùng sau phẫu thuật. Tại các nước đang phát triển, Abscess cơ Psoas thường là do nguyên nhân sơ cấp, ngược lại, ở các nước phát triển, lại do nguyên nhân thứ cấp. Abscess cơ Psoas sơ cấp xảy ra ở độ tuổi dưới 30, còn Abscess cơ Psoas thường xảy ra ở độ tuổi trên 40. Abscess loại này rất hiếm gặp ở người cao tuổi

Chẩn đoán :

  • Bệnh sử : BN thường than sốt,  ớn lạnh, mất cảm giác ngon miệng (chán ăn), đổ mồ hôi đêm, suy nhược mơ hồ khó chịu, và giảm cân. Đau ở vùng bụng, lưng, bẹn, hông, đầu gối,  và đau khi đi lại
  • Lâm sàng : BN sốt, tăng nhịp tim. BN đau, trong 1 số trường hợp nặng, có thể cảm thấy đau ở hạ vị, lưng hoặc bẹn, Có xuất hiện nhiễm trùng da, đỏ, sưng tấy và nóng . Thao tác ở hông cùng bên với ổ Abscess sẽ gây đau theo từng mức độ của hoạt động. BN khập khiễng ở bên bị nhiễm trùng làm liên tưởng đến 1 chấn thương cột sống
  • Các Xét nghiệm :
  1. Công thức máu : tìm thấy sự khác biệt ở số lượng hồng cầu, HCT, số lượng bạch cầu
  2. Xét nghiệm nước tiểu : chẩn đoán phân biệt với bệnh đường niệu
  3. Chụp X-Quang : Với thuốc cản quang  (Pyelogram tĩnh mạch)
  4. MRI hoặc CT :  giúp chẩn đoán Abscess nhanh nhất

Điều Trị

  • Có thể dung thuốc kháng sinh phổ rộng (liều dùng cao), nếu xác định được Abscess cơ Psoas là do Staphylococcus aureus, thì chỉ duy nhất dùng thuốc kháng vi khuẩn Staphylococcus aureus . Kết hợp giữa việc điều trị nội khoa Abscess cơ Psoas và dẫn lưu dịch đọng bằng kim và tiêm. Abscess cơ Psoas thứ cấp cũng được điều trị tương tự như vậy. Các tiếp cận để dẫn lưu Abscess cơ Psoas thường cần đến CT-scan để xác định chính xác vị trí của kim. Nếu do sự nhiễm trùng của đường tiêu hóa thì đồng thời can thiệp phẫu thuật để cải thiện tình trạng đường tiêu hóa

Tiên lượng

  • Không được điều trị, Abscess cơ Psoas sẽ gây tử vong. Tiên lượng tốt đối với việc điều trị dùng thuốc kháng sinh và dẫn lưu ổ Abscess

 

Phục hồi chức năng :

  • Bệnh nhân có thể thực hiện tập thể dục nhẹ dưới sự giám sát của một bác sĩ để kéo dài và tăng cường cơ bắp ở lưng, hông, và đùi. Hoạt động ban đầu cũng có thể bao gồm đi bộ,giới hạn phạm vi chuyển động, và các bài tập máy chạy bộ được thực hiện 2-3 lần một ngày trong 5 đến 20 phút một phiên.

Biến chứng

  • Các biến chứng Abscess cơ Psoas bao gồm hủy hoại cơ thắt lưng và lan truyền của bệnh đến các mô khác. Điều trị chậm trễ hoặc không đầy đủ có thể dẫn đến  nhiễm trùng huyết và tử vong

Read Full Post »


    1. I.        HÀNH CHÍNH
    • Họ và tên BN: TRẦN THANH VANG Đ.
    • Giới tính: Nam
    • Tuổi: 21
    • Địa chỉ: Bình Chánh
    • Phòng: 006
    • Khoa: Ngoại lồng ngực – BV 115
    • Ngày NV: 10.03.2012
    • Lý do NV: Tai nạn giao thông
    1. II.      BỆNH SỬ
    • Cùng ngày NV, BN bị tai nạn giao thông. Theo người nhà khai, BN đập đầu xuống mặt đường, khạc ra máu và hôn mê → BV 115. Vài giờ sau, BN tự tỉnh dậy, cảm thấy đau bụng ¼ trên trái, khó thở.
    • Chẩn đoán trước mổ: Xuất huyết nội do vỡ lách, tràn dịch màng phổi.
    • Phương pháp điều trị đã áp dụng: phẫu thuật đặt dẫn lưu ổ bụng, phẫu thuật cắt lách, phẫu thuật đặt dẫn lưu màng phổi.
    1. III.    TIỀN SỬ
    • Tiền căn nội khoa: chưa có bệnh mãn tính, chưa phát hiện bệnh lý khác.
    • Tiền căn ngoại khoa: chưa từng phẫu thuật.
    1. IV.   THĂM KHÁM LÂM SÀNG
    • Tri giác: BN tỉnh, tiếp xúc tốt.
    • Sinh hiệu: Mạch: 90 lần / phút                             Nhiệt độ: 37C

    Nhịp thở: 20 lần / phút                                   HA: 110/80

    • Tổng trạng
    • Trung bình
    • Da tái, niêm mạc mắt hồng nhạt, chi dưới lạnh.
    • Da, mắt không vàng, không dấu xuất huyết dưới da, không phù.
    • Vùng da vai T trầy mảng lớn.
    • Vết mổ khoảng 20 cm đường trắng, trên rốn.
    • Vết mổ đặt dẫn lưu ổ bụng vùng hạ sườn T.
    • Đang đặt dẫn lưu màng phổi, khoang liên sườn 4 đường nách giữa.
    • Không sờ thấy hạch ngoại vi.
      • Khám ngực:
      • Hô hấp: Lồng ngực cân đối, di động theo nhịp thở.

    Ấn xương sườn không đau, không sờ thấy khối u, lồng ngực giãn nở tốt, rung thanh phổi T giảm, có tiếng lép bép dưới da vùng phổi T.

    Gõ đục phổi T.

    Không rale, rì rào phế nang T giảm.

    • Tim mạch: Không rung miêu, nhịp tim 90 lần / phút. T1, T2 rõ, không tiếng tim bất thường.
      • Khám bụng: bụng mềm, di động theo nhịp thở. Không sờ thấy gan, lách.
      • Mạch máu: Động mạch tứ chi nảy đều. Không ghi nhận dấu hiệu bất thường về tĩnh mạch.
      • Thần kinh: BN tỉnh táo, không dấu hiệu thần kinh khu trú.
      • Cơ, xương, khớp: không ghi nhân bất thường.

     

    1. V.     TÓM TẮT BỆNH ÁN
    • BN nam, 21 tuổi, NV cách 6 ngày, vì hôn mê do tai nạn giao thông.
    • TCCN: khó thở.
    • TCTT: HC 3 giảm, tiếng lép bép dưới da.
    • Tiền sử: chưa có bệnh mãn tính, chưa phẫu thuật.
    • Các XN CLS đã có: XN hòa hợp trong phát máu, SA tổng quát màu, SA tổng quát bụng đen trắng, CT sọ não không cản quang, X-Quang tim phổi thẳng, X-Quang khớp vai.
    • Đặt vấn đề: HC tràn dịch màng phổi, tràn khí dưới da
    • .

Read Full Post »

Older Posts »