Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm, 2012

Bệnh án tiền phẫu tuần 4

I. Hành chính

Họ tên bệnh nhân: Đồng Văn H., tuổi: 41, giới tính: Nam

Nghề nghiệp: Bán hàng

Địa chỉ: Q. Hóc Môn

Ngày nhập viện:  4h sáng 29/05/2012

Ngày khám: 29/05/2012

II. Lý do nhập viện: đau bụng

III. Bệnh sử

Cách nhập viện 19 giờ, bệnh nhân đột ngột đau bụng vùng thượng vị, đau quặn cơn trên nền âm ĩ, đau ban đầu lan ra vùng bụng phải sau lan ra khắp bụng, ra sau lưng và vai trái, đau tăng khi thở, và cử động; gập người lại giảm đau. BN còn có biểu hiện sốt (không rõ nhiệt độ ) kèm lạnh run. Ngoài ra, BN không buồn nôn hay nôn, không vàng da, màu sắc phân, nước tiểu bình thường. BN có ra nhà thuốc tây mua thuốc cảm và hạ sốt ( không rõ loại ) uống, đau và sốt có giảm nhưng sau đó tái lại nên BN nhập viện.

Tình trạng lúc nhập viện

-Mạch: 140 lần/phút

-HA: 150/90 mmHg

-Nhịp thở: 20 lần/phút

-Thân nhiệt: 38.5oC

IV. Tiền sử

1 Bản thân

a. Bệnh lý

Nội khoa

1 năm trước phát hiện tăng huyết áp ở BV Trưng Vương

Cách nay 6 tháng phát hiện đái tháo đường ở BV Trưng Vương

Men gan tăng (?)

Ngoài ra chưa ghi nhận bệnh lý nội khoa khác.

Ngoại khoa:

1998: Mổ hở lấy sỏi ống mật chủ ở BV Trưng Vương

b. Thói quen

Thỉnh thoảng có hút thuốc lá, uống rượu bia lượng ít.

Chưa có tiền căn dị ứng với thức ăn, hay thuốc.

2. Gia đình

Chưa ghi nhận tình trạng tương tự

V. Khám thực thể

1. Tổng trạng

BN tỉnh, tiếp xúc được

DHST

-Mạch: 118 lần/phút

-HA: 130/70 mmHg

-Nhịp thở: 32 lần/phút

-Thân nhiệt: 38.5oC

Thể trạng: Trung bình

Da niêm hồng, không vàng, củng mạc mắt không vàng

Lông, tóc bình thường, không móng tay dùi trống.

Hạch ngoại vi không sờ chạm

Không phù, không xuất huyết dưới da

2. Khám ngực

Tim

Lồng ngực cân đối, di động đều theo nhịp thở, không sẹo mổ cũ, không ổ đập bất thường

Tiếng tim đều, rõ, tần số 120 lần/phút, T1,  T2 bình thường, không tiếng tim bất thường

Phổi

Không co kéo cơ hô hấp phụ

Rung thanh bình thường đều hai phế trường

Phổi gõ trong, không rale bệnh lý

3. Khám bụng

Bụng cân đối, không to bè, di động đều theo nhịp thở, sẹo mổ cũ dọc đường từ mũi ức đến rốn, dài 12cm, sẹo lỗ dẫn lưu dịch mật trên rốn chếch phải 5cm, không tuần hòan bàng hệ

Nhu động ruột 4 lần/phút

Bụng mềm, ấn đau vùng thượng vị, đề kháng thành bụng (-), phản ứng thành bụng (+) 1/2 vùng bụng trên, gan, lách, túi mật không sờ chạm, ấn kẽ sườn (-), rung gan (-), nghiệm pháp Murphy (+).

Gõ trong, không diện đục bất thường

4. Khám các hệ cơ quan khác

Chưa ghi nhận bất thường

VI. Tóm tắt bệnh án

Bệnh nhân nam, 41 tuối, nhập viện vì đau bụng, bệnh sử 1 ngày, qua thăm khám phát hiện

Tiền căn

Mổ hở lấy sỏi ống mật chủ

Tăng huyết áp

Đái tháo đường

TCCN:

Đau bụng vùng thượng vị, đau quặn cơn trên nền âm ĩ, lan ra khắp bụng, ra sau lưng và vai trái, đau kèm sốt lạnh run.

TCTT:

Sốt 38.5oC

Mạch nhanh 118 lần/phút

Nhịp thở nhanh: 32 lần/phút

Bụng ấn đau vùng thượng vị, phản ứng thành bụng (+) 1/2 bụng trên, nghiệm pháp Murphy (+), ấn kẽ sườn (-), rung gan (-)

Đặt vấn đề:

Đau bụng vùng thượng vị lan lưng và vai trái, phản ứng thành bụng (+) 1/2 bụng trên, Murphy (+)

Sốt, mạch, nhịp thở nhanh

Không nôn, không vàng da.

VII. Cận lâm sàng

1.Công thức máu

  • WBC    11.3
  • Neu      8.0
  • Neu%  71.3
  • Lym%  19.9

2. Sinh hóa máu

Glucose 143

Na+         134

K+            3.4

D-Bilirubin 0.25

Total-bilirubin 0.87

Amylase máu 29

GGT         155

3.Siêu âm bụng tổng quát

Hơi đường mật trong và ngoài gan

Read Full Post »

Read Full Post »

Read Full Post »

TÓM TẮT
Thoát vị bàng quang qua bìu bẹn (IBH – Inguinoscrotal Bladder Hernia) là bệnh hiếm gặp, nó chiếm 1-4% các trường hợp thoát vị bẹn. Thoát vị bàng quang cỡ lớn qua bìu bẹn (MIBH – Massive Inguinoscrotal Bladder Hernia), trong đó > 50% bàng quang bị đẩy vào trong túi thoát vị, là vô cùng hiếm. Hậu quả là bệnh nhân có thể bị các bệnh khác do tình trạng thoát vị như trên. Chúng bao gồm nhiễm trùng huyết, tắc nghẽn niệu quản một hoặc cả hai bên, suy thận và nghẹt thở với thiếu máu cục bộ thứ phát của thành bàng quang và vỡ bàng quang. IBH được chẩn đoán phổ biến nhất tại thời điểm phẫu thuật. Điều này có thể dẫn đến biến chứng đáng kể cho bệnh nhân, đặc biệt nếu không được phát hiện trong quá trình phẫu thuật.

GIỚI THIỆU
Bàng quang có liên quan đến 1-4% của tất cả các trường hợp thoát vị bẹn, tỷ lệ này tăng lên đến 10% ở nam giới béo phì trong độ tuổi 50. Nam giới chiếm 70% các trường hợp thoát vị bàng quang qua bìu bẹn, hầu hết xảy ra ở phía bên phải và thường là thoát vị trực tiếp. Các vùng bẹn và đùi chiếm tỷ lệ tương ứng là 75% và 23%, còn lại 2% là các trường hợp xảy ra bên ngoài bẹn. Thoát vị bàng quang qua bìu bẹn cỡ lớn (khi > 50% bàng quang bị lệch ra ngoài vị trí trong khung chậu) là cực kỳ hiếm, hiện có chưa đến 120 báo cáo của thoát vị bàng quang qua bìu bẹn cỡ lớn trong y văn.

TRƯỜNG HỢP BÁO CÁO
Bệnh nhân nam 56 tuổi nhập viện với bệnh sử là sưng liên tục bìu phải từ 12 tháng trước, triệu chứng đường tiết niệu dưới ở mức trung bình, và cuối cùng là hiện tượng co bìu để tống hết nước tiểu ra ngoài một cách có chủ ý.

Trên thăm khám thực thể, ghi nhận bụng mềm, không có khối bất thường, không đau bụng, có một khối sưng không đau ở vùng bìu bẹn. Tuyến tiền liệt được mở rộng, PSA (Prostate-Specific Antigen) bình thường, XN nước tiểu không có vi khuẩn. Siêu âm không giúp ích trong việc hỗ trợ chẩn đoán và MRI được thực hiện (hình 1)


Hình 1: Hình MRI T2 cho thấy một lượng lớn chất lỏng lắng đọng ở bìu phải, gây hiệu ứng khối ở tinh hoàn bên phải.

Phẫu thuật (hình 2) cho thấy sa bàng quang bán phần ngoài phúc mạc thông qua lỗ bẹn trong, vào bìu. Sau khi đưa bàng quang về vị trí giải phẫu bình thường của nó, phẫu thuật bằng lưới không căng (tension-free mesh) được thực hiện. Bệnh nhân sau đó phục hồi tốt và không có biến chứng.


Hình 2: Thoát vị bàng quang (BH) với túi thoát vị, đi kèm với ống dẫn tinh (mũi tên lớn) và dây chằng tinh (mũi tên nhỏ)

THẢO LUẬN
Thoát vị bàng quang cỡ nhỏ thường không có triệu chứng trong khi bệnh nhân thoát vị bàng quang cỡ lớn qua bìu bẹn (MIBH), như trong trường hợp của chúng tôi, thường được báo cáo với dấu hiệu tiểu tiện giai đoạn 2 là sự co bên ngoài của vùng bìu bẹn để tống nước tiểu.

Sinh lý bệnh của thoát vị bàng quang qua bìu bẹn phụ thuộc vào điểm yếu của thành bụng và bàng quang. Sự hiện diện của bí tắc đường niệu, chẳng hạn như mở rộng tuyến tiền liệt hoặc hẹp niệu đạo, bàng quang làm tăng áp lực trong ổ bụng trong lúc tiểu tiện do đó dẫn đến thoát vị. Điểm yếu của sàn chậu, không gian bị choáng bởi một khối bất thường ở vùng chậu cũng có thể dẫn đến thoát vị. Cuối cùng, béo phì có thể liên quan và thoát vị cũng có thể là hậu quả của chấn thương hoặc biến chứng phẫu thuật.

Các biến chứng của thoát vị bàng quang qua bìu bẹn bao gồm sỏi bàng quang (cystolithiasis), tiểu ngược dòng (vesico-ureteric reflux), nhiễm trùng huyết, tắc nghẽn niệu quản một hoặc hai bên, suy thận và nghẹt thở với thiếu máu cục bộ thứ phát của thành bàng quang và vỡ bàng quang .

Việc chẩn đoán trước mổ của thoát vị bàng quang là cần thiết để tránh gây biến chứng do điều trị phẫu thuật. Tổn thương bàng quang xảy ra khoảng 12% trong số bệnh nhân . Kĩ thuật VCUG phải được thực hiện ở những bệnh nhân nghi thoát vị bàng quang từ trước. Kĩ thuật phát hiện thoát vị bàng quang qua bìu bẹn có thể bao gồm siêu âm, CT scan và MRI; những kĩ thuật được dùng để hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch phẫu thuật, dị dạng giải phẫu và các biến chứng có thể được xác định. Sinh thiết mô trong túi thoát vị thấy sự tương đồng mới mô bàng quang, sự thay đổi kích thước trong ống bẹn trước và sau khi tiểu tiện hay sự liên tục giữa bàng quang và khối thoát vị có thể hỗ trợ chẩn đoán xác định thoát vị bàng quang.

Phần lớn thoát vị bàng quang được phát hiện trong lúc phẫu thuật, chỉ có 7% được chẩn đoán trước mổ và 16% sau mổ do biến chứng. Thoát vị bàng quang qua ống  bẹn được phân loại thành trong phúc mạc, cạnh phúc mạc hoặc ngoài phúc mạc – hầu hết các trường hợp là cạnh phúc mạc (60%), trường hợp hoàn toàn trong phúc mạc là rất hiếm, trong khi trường hợp ngoài phúc mạc chiếm 30% .

Thoát vị bàng quang qua bìu bẹn gặp phải trong quá trình phẫu thuật nên được điều trị đúng quy chuẩn. Cắt bỏ bàng quang chỉ nên được áp dụng cho phần hoại tử của bàng quang, hoặc nếu có sự hiện diện của bệnh ác tính ở bàng quang.

Trường hợp thoát vị hiếm gặp này là một lời nhắc nhở cần thiết để các bác sĩ tránh gây thiệt hại đến bàng quang bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật. Những tổn thương này có thể không được phát hiện trước mổ và với trường hợp tổn thương trong phúc mạc, sự tử vong là hoàn toàn có thể xảy ra.

Nguồn:
http://jscr.co.uk/2012/05/colorectal-surgery/massive-inguinoscrotal-bladder-hernia/

Read Full Post »

Read Full Post »

I/THÔNG TIN CHUNG

  • Họ tên bệnh nhân: Lê Văn Ng.            Năm sinh:1933      Giơi tính:nam
  • Địa chỉ:quận 8 ,tp.HCM
  • Nhập viện ngày 25/5/2012
  • Lí do nhập viện:khó thở
  • Tóm tắt bệnh sử:cách nhập viện  2h,BN té,ngực đập vào ban công,sau đó BN thấy đau ngực,khó thở nên nhập viện 115

II/MÔ TẢ THỦ THUẬT

Ngày thực hiện:30/5/2012

Mô tả thủ thuật:rút ống dẫn lưu tràn khí màng phổi (P)

  • Chuẩn bị bộ dụng cụ

P1020908

  • Tháo kẹp ống dẫn lưu

P1020907

  • Tháo băng keo băng vết thương

P1020911

  • Sát trùng chân ống dẫn lưu,sau sát trùng rộng ra 5 cm và sát trùng ống dẫn lưu
  • Bảo bệnh nhân hít sâu rồi nín thở,dùng kẹp kẹp ống dẫn lưu lại,bảo bệnh nhân hít thở bình thường

P1020917

 

  • Cắt chỉ cố định,xoay ống
  • Gút trước chỉ chữ U,bảo bệnh nhân nín thở,rút ống dẫn lưu ra,buộc chỉ để làm kín vết mổ,bảo bệnh nhân hít thở bình thường

P1020919                       P1020924

  • Sát trùng lại vết mổ,đắp gạc và dán băng keo

P1020925

 

  • Dọn dẹp bộ ống dẫn lưu,rút ống dẫn lưu ra khỏi bình,bỏ vào bao nylon,bình chứa dịch bảo người nhà đem rửa
  • Sau khi rút ống,dặn bệnh nhân thời gian chụp X-quang kiểm tra

III/BÀI HỌC KINH NGHIỆM

  • Dặn dò bệnh nhân cẩn thận,để tránh xảy ra sai sót
  • Thực hiện đúng quy trình kĩ thuật
  • Sau khi hoàn tất,dặn dò bệnh nhân thời gian chụp X-Quang kiểm tra

 

Read Full Post »

GÃY XƯƠNG HỞ

Nếu xương gẫy đến nỗi mà một mảnh xương dính qua da hoặc vết thương xuyênUnlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

qua các xương bị gãy, thì nó được gọi là “hở” hoặc gãy xương hỗn hợp. Ví dụ, khi người đi bộ bị đập bởi người uống rượu đang lái xe, xương chày bị gãy có thể nhô ra thông qua một vết rách trên da và mô mềm khác.
Bởi vì gãy xương hở thường bao gồm nhiều sự phá hủy đển các cơ bắp xung quanh, gân và dây chằng hơn gãy xương kín, chúng có nguy cơ cao bị biến chứng và mất một thời gian lâu hơn để chữa lành.
Đây là loại gãy xương là đặc biệt nghiêm trọng bởi vì một khi da bị phá vỡ, nhiễm trùng vết thương và xương có thể xảy ra.

I.Nguyên nhân
Gãy xương mở được gây ra bởi chấn thương mạnh, thông thường nhất  từ một cú đánh mạnh trực tiếp, chẳng hạn như ngã xe hay va chạm xe cộ.
Những kiểu gãy xương này cũng có thể xảy ra gián tiếp, chẳng hạn như là chấn thương xoắn với lực mạnh.

II.Mô tả

Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Trong gãy xương hở, kết thúc vỡ xương chày làm rách qua các mô mềm và nhô ra da.
Bởi vì năng lượng cần thiết để gây ra những loại gãy xương, bệnh nhân thường có tổn thương thêm, một số đó có khả năng đe dọa tính mạng – yêu cầu điều trị. Có một tỷ lệ 40% đến 70% chấn thương liên quan một nơi khác trong cơ thể khi có một vết nứt hở.
Gãy xương hở có thể thay đổi đáng kể mức độ nghiêm trọng. Ví dụ, một gãy xương hở có thể là một vết thương nhỏ tí chỉ một vài mm đường kính. Xương có thể hoặc không thể nhìn thấy trong vết thương. Gãy xương hở có thể tiếp xúc với rất nhiều xương và cơ bắp, và có thể gây tổn thương nghiêm trọng dây thần kinh và mạch máu xung quanh.
Gãy xương hở tượng trưng cho hình ảnh của chấn thương: Thứ nhất, vấn đề cơ bản của gãy xương; thứ hai,sự tiếp xúc của các xương bị gãy đến vật xung quanh, và do đó, nhiễm trùng của các phần xương gãy.

1.Gãy xương và bị thương

Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của gãy xương hở. Ví dụ, các xương có thể bị gãy ngang qua, dọc xuống, và  một vài miếng riêng. Các mảnh xương có thể là rất sắc bén và có thể làm rách qua các mô mềm từ bên trong.
Một cú đánh trực tiếp có thể làm rách và nghiền nát da và mô mềm, cũng như xương. Nếu xương vỡ tan, có thể có vô số các mảnh vỡ có thể đâm thủng vào các mô thần kinh và các mô mềm xung quanh.

2.Môi trường nhiễm.
Môi trường gãy xương bị bộc lộ sẽ tác động  đến mức độ ô nhiễm như bụi bẩn, kính vỡ, hoặc vải có thể bị đẩy vảo trong  vết thương. Biết được nơi mà chấn thương xảy ra – một chuồng, vùng công nghiệp, thành phố đường phố, chiến trường – giúp cho bác sĩ có cái nhìn rõ hơn về những gì các loại chất gây nhiễm  vết thương  mà bi bộc lộ ra bên ngoài.
3.Sự nhiễm trùng
Mặc dù gãy xương hở được liên tưởng với một tỷ lệ nhiễm trùng khá cao, điều này phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Nói chung, sự hủy hoại  càng lớn thì xương, mô mềm, dây thần kinh, và mạch máu, càng có nguy cơ cao nhiễm trùng.
Một nhiễm trùng xương có thể là khó khăn để loại bỏ. Nó có thể yêu cầu điều trị kháng sinh dài hạn, cũng như phẫu thuật nhiều lần. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, cắt bỏ chi bị nhiễm khuẩn là cách duy nhất để ngăn chặn nhiễm trùng. Ngăn ngừa nhiễm trùng là trọng tâm của điều trị sớm cho gãy xương hở.

III.Sự kiểm tra và điều trị ban đầu của bác sĩ
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Trong phòng cấp cứu, bác sĩ sẽ đánh giá và làm ổn định tất cả các dấu hiệu quan trọng và kiểm tra các thương tích phụ. Anh ta hoặc cô ta sẽ cần phải biết làm thế nào chấn thương xảy ra, cũng như nếu bạn có bất kỳ vấn đề y tế khác, chẳng hạn như bệnh tiểu đường. Bác sĩ cũng cần phải biết nếu bạn có uống bất cứ loại thuốc nào.
Bác sĩ sẽ tiến hành một cuộc kiểm tra toàn diện xương gãy, và đánh giá các mô mềm, dây thần kinh và mạch máu tổn thương.
Hầu hết gãy xương hở là hiển nhiên bởi vì xương có thể nhìn thấy hoặc nhô ra qua da hoặc bên trong vết thương. Một số vết nứt hở là tinh tế hơn. Vì vậy, khi có bất kỳ vết thương trong cùng một khu vực gãy xương, nó được giả định là gãy xương hở.
Gãy xương hở nên được xử lý càng sớm càng tốt. Mục tiêu của bác sĩ là  ngăn chặn nhiễm trùng vì nhiễm trùng có thể ngăn cản chữa xương và có thể dẫn đến cắt cụt chi.

1.      Thuốc kháng sinh và uốn ván
Kháng sinh được bắt đầu càng sớm càng tốt trong phòng cấp cứu. Mức độ nghiêm trọng của chấn thương xác định các thuốc kháng sinh được đưa ra. Trừ khi bạn đã chích ngừa uốn ván trong vòng 5 năm chấn thương, nếu không bạn cũng sẽ được tiêm ngừa nó.
2.Xét nghiệm
X-quang sẽ cho bác sĩ thấy gãy xương phức tạp như thế nào. Những hình ảnh này cho thấy có bao nhiêu mảnh xương, cũng như quy mô độ dịch chuyển (khoảng cách giữa các mảnh vỡ).
Xét nghiệm máu và nước tiểu có thể cung cấp cho bác sĩ những thông tin quan trọng về sức khỏe chung của bạn.
3.Cố định vết thương
Trong khi ở phòng cấp cứu, vết thương của bạn sẽ được bao phủ bằng một băng khử trùng. Bác sĩ sẽ nhẹ nhàng đưa xương vào thẳng hàng để ngăn chặn các mảnh vỡ gây hư hại thêm cho các mô mềm. Sau đó bác sĩ sẽ dùng một thanh nẹp chân tay bị thương của bạn để bảo vệ và giữ cho nó không di động cho đến khi bạn được đưa đến phẫu thuật.

IV. Điều trị
Mục tiêu  điều trị gãy xương hở là ngăn chặn nhiễm trùng, chữa lành xương bị gãy, và phục hồi chức năng.

1.Mổ cắt lọc và rửa vết thương
Các bước đầu tiên trong việc kiểm soát nguy cơ nhiễm trùng là cắt lọc và rửa vết thương
Mổ cắt lọc. Trong thủ thuật này, bác sĩ phẫu thuật  sẽ loại bỏ tất cả bụi bẩn và vật lạ, cũng như da bị nhiễm và không sống, cơ bắp, và các mô mềm khác. Xương cũng được làm sạch của tất cả các bụi bẩn và các vật liệu lạ khác. Bất kì mảnh xương nào rời ra đều được loại bỏ. Mảnh xương bị nhiễm nghiêm trọng cũng bị loại bỏ. Mất xương có thể được điều chỉnh sau đó với ca phẫu thuật bổ sung.

Rửa vết thương. Sau khi mổ, vết thương đựoc làm sạch và rửa bằng vài lít nước muối.

2.Điều trị xương gãy
Điều quan trọng là cố định xương gãy càng sớm càng tốt để ngăn ngừa tổn thương mô mềm nhiều hơn. Các xương gãy trong gãy xương hở được giữ chắc tại chỗ  bằng cách sử dụng các phương pháp cố định bên ngoài hay bên trong. Những phương pháp này cần phải phẫu thuật.

Cố định bên trong. Trong ca phẫu thuật, các mảnh xương vỡ đầu tiên được đặt lại  vào trong xương bình thường của họ, và sau đó giữ chặt cùng với các ốc vít đặc biệt hoặc bằng cách gắn các tấm kim loại với mặt ngoài của xương. Các mảnh vỡ cũng có thể được gắn  với nhau bằng cách đặt một thanh qua tủy ở trung tâm xương. Những phương pháp điều trị có thể đặt lại vị trí các mảnh vỡ xương rất chính xác.
Bởi vì gãy xương hở có thể bao gồm tổn thương mô và được đi kèm với tổn thương phụ, có thể mất nhiều thời gian trước khi phẫu thuật cố định bên trong có thể được thực hiện một cách an toàn. Câu hỏi bác sĩ sẽ xem xét khi lập kế hoạch điều trị gãy xương bao gồm:

• Những gì bệnh nhân có thể chịu đựng được?
• Cái gì mà  vết thương và các mô mềm có thể chịu đựng được?
• Điều gì là cần thiết để cố định xương?

Cố định bên ngoài. Tùy thuộc vào vết thương của bạn, bác sĩ có thể sử dụng phương pháp cố định bên ngoài để giữ xương liên kết với nhau. Trong phương pháp này, đinh ghim hoặc ốc vít được đặt vào xương bị gãy ở trên và dưới phần gãy. Sau đó, bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình đặt lại các mảnh vỡ. Các đinh ghim hoặc ốc vít được nối với một thanh kim loại hoặc thanh bên ngoài da. Thiết bị này là một khung cố định để giữ xương ở vị trí thích hợp.

Gãy xương hở nhỏ. Đối với thương tích ít nghiêm trọng với khả năng nhiễm trùng rất thấp,xương gãy có thể được cố định bằng phương pháp cố định bên trong một khi vết thương đã được loại bỏ mô hoại tử triệt để.Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Trẻ gãy xương hở được nói đến trước

đó trong bài viết này đã được điều trị

với thanh kim loại đóng vào xương chày.

Trong thủ thuật này, thanh đã được đặt

trung tâm của xương để giữ các mảnh vỡ tại chỗ.

 

 

Gãy xương hở nghiêm trọng. Gãy xương hở nặng được cố định bằng cách sử dụng phương pháp cố định bên ngoài. Điều này sẽ giữ cho xương ở tại chỗ cho đến khi vết thương có thể chịu đựng được một quy trình cố định bên trong .
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire
Trong gãy xương hở nghiêm trọng như trong hình, các bác sĩ phẫu thuật

chỉnh hình đóng vết thương bằng các mũi khâu sau khi mở vết thương và cố định bên ngoài.

Vết thương phức tạp. Trong một số trường hợp gãy xương hở, rất nhiều mô mềm đã bị mất và vết thương quá lớn không đóng lại được.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Tùy thuộc vào số lượng các mô mềm bị mất, những vết thương phức tạp có thể được phủ bằng nhiều phương pháp khác nhau

• Vạt cục bộ. Các mô cơ từ chi liên quan được xoay quanh các xương gãy. Một miếng da được lấy từ một vùng khác của cơ thể (ghép) được đặt  trên này.
• Vạt tự do. Một số vết thương có thể cần phải chuyển mô hoàn toàn. Mô này thường được lấy từ lưng hoặc bụng. Quá trình lấy vạt mô để che phủ yêu cầu sự trợ giúp của bác sĩ mạch máu để đảm bảo các mạch máu được thông nối và tuần hoàn được thành lập.

Trong những vết thương phức tạp , che phủ tạm thời xương gãy phải được thành lập để làm nguy cơ nhiễm trùng và đẩy mạnh quá trình lành vết thương. Trong những trường hợp này, nhiều loại băng có thể được sử dụng, nhưng đôi khi vết thương được bịt kín bằng vật liệu bán thấm cho đến khi quá trình đóng mô mềm. Các hạt kháng sinh thường được đặt vào vết thương  để cung cấp kháng sinh nồng độ cao  trực tiếp đến vết thương.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

Hạt kháng sinh có thể được sử dụng để giúp ngăn ngừa nhiễm trùng vết thương tạm thời trong phạm vi vết thương.

V. Các biến chứng

Gãy xương hở là chấn thương nặng và vì thế, biến chứng nghiêm trọng được đi kèm với chúng:

• Nhiễm trùng là biến chứng thường gặp nhất của gãy xương hở. Nhiễm trùng có thể xảy sớm, trong giai đoạn chữa trị gãy xương, hoặc thậm chí sau đó. Nói chung, mức độ tổn thương mô mềm càng lớn, nguy cơ nhiễm trùng càng cao. Nếu nhiễm trùng trở thành mãn tính (viêm tủy xương), nó có thể dẫn đến phẫu thuật nhiều lân nữa  và cắt bỏ chi.
Unlimited Free Image and File Hosting at MediaFire

• Gãy xương hở có thể khó khăn trong điều trị. Nếu xương gãy không thể lành lại, phẫu thuật có thể được yêu cầu thêm. Phẫu thuật để thúc đẩy chữa bệnh thường bao gồm việc ghép  xương trên các chỗ đứt gãy, cũng như các phương pháp mới cố định bên trong.

• Hội chứng ngăn cấp tính có thể  tiến triển. Đây là một tình trạng đau đớn xảy ra khi áp lực trong cơ bắp đến mức nguy hiểm. Trừ khi áp lực được giảm xuống một cách nhanh chóng, nếu không tình trạng khuyết tật vĩnh viễn và  chết mô có thể xảy ra

VI. Phục hồi
Phải mất bao lâu để trở lại hoạt động hàng ngày sẽ thay đổi tùy thuộc vào loại gãy xương và mức độ nghiêm trọng của vết thương. Thông thường nó có độ cứng, sự khó chịu, và yếu trong vài tháng sau khi bị thương.

Điều trị thành công gãy xương cũng phụ thuộc rất lớn vào sự hợp tác của bạn. Các bài tập trong quá trình chữa trị và sau khi xương lành là cần thiết để giúp khôi phục lại sức mạnh cơ bắp bình thường, cử động khớp và tính linh hoạt. Bác sĩ sẽ cung cấp cho bạn với một kế hoạch tập thể dục phục hồi chức năng, hoặc đề nghị vật lý trị liệu.
Bác sĩ  sẽ nói chuyện với bạn về mối quan tâm và mong đợi của bạn. Họ cũng sẽ nói chuyện về những  tác động của  vết thương có thể có lên hoạt động hàng ngày, công việc, trách nhiệm gia đình, và vui chơi giải trí.

VII.Nghiên cứu

Có rất nhiều nghiên cứu được tiến hành điều trị gãy xương hở. Một số các nghiên cứu hiện hành điều tra:

• Đóng xương gãy
• Thời gian mổ mô hoại tử
• Thời gian che phủ mô mềm
• Việc sử dụng dụng cụ ngâm tẩm thuốc kháng sinh
Các bác sĩ đang tích cực tìm kiếm mới, cách tiếp cận hiệu quả để điều trị các vết thương đầy thử thách.

Nguồn http://orthoinfo.aaos.org/topic.cfm?topic=A00582

Read Full Post »

Older Posts »