Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba, 2012

I. HÀNH CHÁNH

Bệnh nhân Phạm Kỳ L, nam, 53 tuổi

Địa chỉ: Quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày nhập viện: 26/3/2012

II. LÝ DO NHẬP VIỆN

Đau bụng

III. BỆNH SỬ
Cách ngày nhập viện 2 ngày, bệnh nhân bị đau trên rốn, từng cơn, BN tiểu buốt
Tình trạng lúc nhập viện:
Sinh hiệu: M=70, T=37C, HA=120/80, NT=20
BN tỉnh,da niêm hồng
IV. TIỀN CĂN
1. Bản thân:
* Viêm sỏi túi mật 4 năm

2. Gia đình:
Bình thường

V. KHÁM LÂM SÀNG

1. Tổng quát:

– Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc được.

– Tổng trạng bệnh nhân trung bình.

– Da niêm hồng. Môi không khô, niêm mạc dưới lưỡi không khô. Dấu véo da mất nhanh.

– Không phù.

– Hạch ngoại biên không sờ chạm.

Sinh hiệu: Mạch: 70 lần/phút.

Huyết áp: 120/80 mmHg.

Nhiệt độ: 37C.

Nhịp thở: 18 lần/phút.

.

2. Hô hấp:

– Lồng ngực cân đối, di động đều theo nhịp thở.

– Rung thanh đều 2 bên.

– Gõ trong 2 bên

– Rì rào phế nang êm dịu đều 2 bên.

3. Tim mạch:

– Lồng ngực không có tuần hoàn bàng hệ, không có ổ đập bất thường.

– Dấu Hazer (-)

– Chi ấm, mạch quay rỏ hai bên

– Tim đều, tần số 50 lần/phút, tiếng T1T2 rõ.

4. Tiêu hóa:

– Bụng chướng nhẹ, di động đều theo nhịp thở.

– Bụng mềm, ấn đau vùng trên rốn hạ sừơn phải

– Âm ruột bình thường, tần số 6 lần/phút.

– Gỏ vang khắp bụng

5. Thận – tiết niệu – sinh dục:

– Chạm thận (-)

– Rung thận (-)

6. Cơ – xương – khớp:

– Tứ chi cân đối

– Các khớp không sưng nóng, không giới hạn vận động.

VI. TÓM TẮT BỆNH ÁN

Bệnh nhân nam 53 tuổi nhập viện vì đau bụng

Triệu chứng cơ năng: đau bụng vùng trên rốn, từng cơn. Tiểu buốt

Triệu chứng thực thể: ấn đau vùng trên rốn,hạ sừơn phải

Tiền căn: viêm phúc mạc 10 năm, áp xe gan 1 năm
Xét nghiệm cận lâm sàng: Sinh hóa, cthức máu, X-quang
Chẩn đoán sơ bộ: Sỏi túi mật, hội chứng dạ dày tá tràng
VII. CHẨN ĐOÁN:

Chẩn đoán : Sỏi túi mật

Chẩn đoán phân biệt: viêm túi mật, hội chứng dạ dày tá tràng

Read Full Post »

Tổng quan:

Bối cảnh:

Hội chứng Ogilvie, hay còn gọi là hội chứng giả tắc đại tràng cấp tính (ACPO), là một bệnh lý lâm sàng với các dấu hiệu, triệu chứng, và hình ảnh x-quang xuất hiện của 1 hình ảnh tắc đại tràng cấp tính nhưng mà không có bằng chứng của tắc đại tràng. Đại tràng có thể trở nên dãn rộng, nếu không làm giảm sức ép, bệnh nhân có thể bị thủng đại tràng, viêm phúc mạc và chết.

Năm 1948, Ogilvie đã mô tả 2 bệnh nhân ung thư di căn và lây lan sau phúc mạc đến đám rối mặt trời. Hai bệnh nhân này cũng có những triệu chứng của tắc đại tràng nhưng không có các bằng chứng của sự tắc ruột. Ogilvie đã đưa ra giả thuyết rằng nguyên nhân của việc này là sự mất cân bằng của hệ thần kinh tự chủ đối với hệ giao cảm đến đại tràng, đưa đến sự hoạt động mạnh của hệ phó giao cảm và gây co thắt cục bộ, kết quả là tắc nghẽn chức năng.

Năm 1958,  Dudley et al đã sử dụng thuật ngữ giả tắc ruột để mô tả trường hợp lâm sàng có sự tắc ruột cơ học mà không có bằng chứng của bệnh hữu cơ trong suốt quá trình mở bụng.

Sinh lý bệnh:

Sinh lý bệnh của hội chứng Ogilvie thì không được hiểu rõ. Nghiên cứu về bệnh học thần kinh đại tràng tiết lộ rằng giả thuyết Ogilvie thì gần giống những ý kiến đưa ra gần đây. Hệ thần kinh đối giao cảm thúc đẩy nhu động ruột. Dây thần kinh X truyền những tín hiệu đối giao cảm từ đường tiêu hóa trên đến đại tràng góc lách và các dây thần kinh đối giao cảm ở xương cùng (S2 đến S5) truyền tín hiệu đến đại tràng trái và trực tràng. Thần kinh giao cảm thì ức chế nhu động ruột và sự co thắt của cơ vòng. T6 cung cấp tính hiệu giao cảm đến đại tràng phải, trong khi L1 – L3 cung cấp đến đại tràng trái.

Sự mất cân bằng trong hoạt động của hệ thần kinh tự chủ đưa đến sự tắc ruột cơ năng, như là hỗ trợ dược lý, nghiên cứu phong tỏa tủy sống, rối loạn chuyển hóa, chấn thương sau phúc mạc. Khác với giả thuyết của Ogilvie, một vài bằng chứng hiện tại cho rằng sự gián đoạn xảy ra ở những sợi thần kinh phó cảm ở xương cùng sẽ dẫn tới tắc đoạn xa đại tràng gống như là bệnh Hirschsprung, ngoại trừ những tế bào hạch bình thường có thể thấy trong khám nghiệm tử thi. Những nghiên cứu khác cho thấy tín hiệu giao cảm tăng lên trong những bệnh nhân bị bệnh nặng, dẫn đến ức chế nhu động đại tràng.

Manh tràng thường là nơi giãn rộng nhất trong bệnh nhận có hội chứng Ogilvie và dễ có nguy cơ thủng. Định luật Laplace cho thấy áp lực trong lòng cần để làm kéo dài thành của một ống rỗng thì tỉ lệ nghịch với đường kính của nó. Manh tràng với đường kính lớn hơn nên cần một áp lực nhỏ nhất để tăng kích thước và kéo căng thành manh tràng. Khi sự căng của thành đại tràng tăng lên, sự thiếu máu cục bộ theo chiều dọc của thanh mạc, thoát vị của niêm mạc, và thủng có thể xảy ra.

Dịch tể học:

Tỷ lệ tử vong/ bệnh suất:

Tỷ lệ tử vọng 15 -50% đã được báo cáo, tuy nhiên, với nhận thức tăng lên, phương tiện chẩn đoán tốt hơn, quản lý bệnh tốt hơn, mức độ tử vong đã giảm đi. Nguy cơ thủng thì cao hơn ở manh tràng có đường kính lớn. Nhìn chung, tình trạng y tế của bệnh nhân có hội chứng Ogilvie thì nghèo. Tiên lượng trên những bệnh nhân được điều trị thành công thì liên quan trực tiếp đến điều kiện hợp tác y tế.

Chủng tộc:

Không dữ liệu cho thấy tần suất khác nhau theo chủng tộc.

Giới tính:

Không dữ liệu cho thấy tần suất khác nhau theo giới tính, tuy nhiên, một vài nghiên cứu cho rằng bệnh này có lẽ ưu thế ở nam gầy, tỉ lệ có thể là 1.5:1.

Tuổi:

Hội chứng Ogilvie thường xảy ra ở bệnh nhân cao tuổi, thường là trên 60 tuổi, tuy nhiên, nó có thể xảy ra ở bệnh nhân trẻ hơn, đặc biệt ở những người bị các bệnh rối loạn tủy sống.

Trình bày

Bệnh sử:

Bệnh nhân bị hội chứng Ogilvie nhập viện với tình trạng chướng bụng và táo bón. Trên 40% bệnh nhân gần đây có trung tiện hoặc đại tiện. Triệu chứng hiện tại như sau:

  • Đau bụng ( 80%)
  • Buồn nôn và nôn (80%)
  • Táo bón (40%)
  • Sốt (37%)

Lâm sàng:

Chướng bụng (90-100%)

Bụng mềm (64%)

Âm ruột như sau:

  • Bình thường hoặc tăng âm sắc (40%)
  • Giảm âm sắc hoặc mất (60%)

Nguyên nhân:

Hội chứng Ogilvie thường xảy ra khi bệnh nhân bị một bệnh nặng gần đây hoặc được phẫu thuật. 3 sự kết hợp thường nhất là chấn thương, nhiễm trùng và bệnh tim mạch, đặc biệt là nhồi máu cơ tim và suy tim sung huyết.

Phẫu thuật gần đây

  • Bụng
  • Chỉnh hình
  • Thần kinh
  • Tiết niệu
  • Tim mạch

Bệnh phổi nghiêm trọng

Rối loạn điện giải

  • Hạ kali máu
  • Ha natri máu
  • Hạ hoặc tăng canxi máu
  • Hạ magie máu

Bệnh hệ tim mạch nghiêm trọng

Táo bón nghiêm trọng

Bệnh ác tính

Nhiễm trùng hệ thống

Thuốc

  • Narcotics
  • Anticholinergics
  • Clonidine
  • Amphetamines
  • Phenothiazines
  • Steroids

Chẩn đoán phân biệt:

  • Thiếu máu mạc treo cục bộ cấp tính
  • Thiếu máu mạc treo cục bộ mãn tính
  • Ung thư đại tràng
  • Táo bón
  • Viêm túi thừa
  • Bệnh Hirschsprung
  • Thủng ruột
  • Giả viêm ruột

http://emedicine.medscape.com/article/184579-followup

Read Full Post »

1. Thông tin chung :

Họ tên, tuổi, giới tính  : Võ Thị L, 71 tuổi, nữ

Địa chỉ : Phan Rang

Ngày nhập viện : 15/3/2012

Khoa Ngoại tổng quát, phòng 421

2. Tóm tắt bệnh án :

BN mổ thoát vị thành bụng có đặt mảnh ghép thành bụng. Sau mổ 4 ngày BN vẫn còn đau vết mổ, khám thấy có tụ dịch đường kính khoảng 7cm dưới da. Sau khi loại trừ thoát vị nội qua siêu âm và BN không có rối loạn đông máu. BN được chỉ định chọc hút dịch, sau đó băng ép cho xuất viện.

3. Mô tả :

Thủ thuật : chọc hút dịch tụ dưới da sau mổ

Ngày thực hiện :30/3/2012

Các bước tiến hành :

+ Thông báo cho BN trước khi làm thủ thuật

+ Chuẩn bị dụng cụ : bông gòn, gạc, kiềm kelly, nhíp, xi lanh nhỏ và kim nhỏ  (tiêm thuốc tê), xi lanh lớn và kim lớn (chọc hút dịch), găng vô khuẩn, thuốc tê

+ Chuẩn bị BN : cho BN nằm ngửa, bộc lộ vùng tụ dịch

+ Mang găng vô khuẩn

+ Sát khuẩn vết mổ và vùng da xung quanh, sát khuẩn từ trong ra ngoài và rộng ra hết khối tụ dịch bằng dung dịch Petadin, chờ 2 phút cho dung dịch khô

+ Xác định vị trí chọc hút dịch  : là nơi căng, mềm và phồng nhất để chọc hút

+ Gây tê nơi chọc hút dịch, vừa gây tê vừa rút đến khi dịch chảy ra

+ Dùng xi lanh lớn hút dịch, lượng dịch khoảng 30ml, màu hồng nhạt, là dịch từ vùng bóc tách tiết ra, bản chất là thanh dịch có lẫn máu

+ Tiến hành băng ép : đắp gạc chèn có trọng điểm nơi tụ dịch (không ép nơi vết mổ), dán băng keo, sau đó băng thun

4. Kinh nghiệm rút ra : khoảng 4 ngày sau mổ BN vẫn còn đau vết mổ nhiều, quá khả năng có thể chịu được và có khối gò vùng mổ, cần khai thác các triệu chứng cơ năng và thăm khám để đưa đến hướng điều trị kịp thời

Read Full Post »

1-Thông tin chung

Ngày trực: 28/03/2012

Bác sĩ trực: BS Hùng, BS Thọ

2-Tường trình ca tiểu phẫu

Họ tên bệnh nhân: Chiêu Đoan T.                     tuổi: 17t

                     giới tính: Nam

Cơ chế chấn thương: bị  người khác dùng cây sắt đánh vào đầu

Mô tả vết thương: vết thương trên đỉnh đầu, hơi lệch về phía sau và bên trái, viết thương dài khoảng 3-4cm, rộng khoảng 1-2cm,sâu khoảng 1cm

Hướng xử trí: khâu vết thương

Tiến hành:

-Chuẩn bị dụng cụ

-Dùng nước muối sinh lý và oxy già rửa sạch vết thương.

-Gây tê nông và sâu xung quanh vùng vết thương.

-Dùng chỉ Nylon 3/0 khâu 3 mũi, khép kín vết thương.

-Sát trùng lại bằng Povidin.

-Cột gạc vào vết thương

Photobucket

Bài học kinh nghiệm: phải tuân thủ các nguyên tắc đảm bảo vô trùng  cho bệnh nhân, đối với những vết thương không thể dán băng keo lại được thì cuốn gạc và cột lại.

3/ Tường trình ca lâm sàng:

Phần hành chính:

Họ và tên: Phạm Thanh L                        Sinh năm: 1995

Giới tính: nam                                                    Nơi ở: Nhà Bè

Ngày nhập viện: 28/3/2012

Lý do: vết thương bị đâm ở bụng

Bệnh sử: Khoảng 6h chiều cùng ngày bn bị đâm ở bụng. Vết thương ở bụng chảy máu nhiều không cầm được máu nên nhập viện 115 vào lúc 7h tối cùng ngày.

Tiền sử: chưa ghi nhận được gì bất thường.

Khám lâm sàng:

Tổng trạng bn trung bình, bn hơi lơ mơ, tiếp xúc không được.

Da niêm nhạt, môi hơi thâm và run, các đầu chi hơi lạnh.

Sinh hiệu:   Mạch: 82 lần/phút                    Huyết áp: 108/59

                       Nhịp thở: 20 lần /phút           

Lồng ngực cân đối, bn hít thở sâu có co kéo cơ hô hấp phụ, được cho thở máy O2.

Bn được đặt ống thông dạ dày, dịch trong ống ra là dịch vị lẫn máu ra ít.

Bụng: ngoài vị trí bị tổn thương không ghi nhận được thêm các dấu hiệu bất thường khác, di động đều theo nhịp thở.

Mô tả vết thương:

Vết thương nằm trên vùng thượng vị, cạnh đường giữa rốn bên trái, dưới hạ sườn trái, cách trên rốn khoảng 10cm.

 Vết thương dài khoảng 3-4cm, rộng khoảng 1-2cm, vết thương xuyên thấu bụng không xác định rõ được chiều sâu.

Vết thương chảy máu rất nhiều, máu trong lỗ vết thương nâng lên hạ xuống di động theo nhịp thở.

Cận lâm sàng: Siêu âm có dịch trong ổ bụng

                            X-quang chưa ghi nhận đươc bất thường

Chẩn đoán trước phẫu thuật: vết thương thấu bụng- theo dõi thấu ngực.

Xử trí: Bn được chuyển lên phòng mổ khoảng 8h tối cùng ngày. Bn được mổ hở.

Tiến trình phẫu thuật:

-đặt bn nằm ngửa, gây mê và đặt nội khí quản

-thông tiểu cho bn

-sát trùng bằng povidine rộng khắp bụng

-chải champ khắp người chỉ để lộ vùng phẫu thuật

-rạch bụng ở đường giữa gần vết thương,  rạch từ từ từng lớp

-dùng gạc thấm và dùng ống hút máu trong bụng bn ra

-hút bớt máu trong ổ bụng và dò tìm vị trí cơ quan bị tổ thương

-ghi nhận không thủng cơ hoành và không liên quan đến vết thương thấu ngực

-phát hiện gan bị đâm xuyên- rách gan và được khâu lại bằng chỉ khâu gan vicryl, kim to, đầu tù.

(kim chỉ khâu gan)

-máu vẫn tiếp tục chảy ra rất nhiều, dùng máy hút và gạc thấm máu liên tục

-phát hiện đứt động mạch vị trái và cầm máu nơi động mạch đứt

-kiểm tra và dò tìm lỗ thủng da dày nhưng không thấy được lỗ thủng

-kiểm tra lại dạ dày lần nữa bằng cách bơm nước có pha xanh methylen màu xanh dương vào dạ dày nhưng vẫn không thấy lỗ dò.

-đặt ống dẫn lưu ở gan ra ngoài ổ bụng

-kiểm tra lại kĩ lưỡng các vị trí khác, hút sạch máu, làm sạch ổ bụng

-khâu lại từng lớp, sau đó sát trùng lại bằng povidine và băng lại.

-kết thúc quá trình phẫu thuật, bn được chuyển qua phòng hồi sức.

Trong quá trình phẫu thuật bn được truyền dịch, bơm thuốc không rõ loại và bn bị mất máu hơn 2 lít nên được truyền máu bổ sung.

Bài học kinh nghiệm:

Khi đánh giá một vết thương cần phải quan sát và đánh giá kĩ để có thể quyết định được mổ nội soi hay mổ hở.

Khi quan sát thông hút 1 cơ quan như dạ dày, cần quan sát kĩ về: lượng dịch, tính chất, màu sắc, để có thể nhận định được cơ quan đó có bị tổ thương không. Trường hợp này lúc thông dạ dày thấy có màu đỏ và nghi ngờ là thủng dạ dày nhưng thực chất đó là đó là do quá trình đặt ống thông niêm mạc hầu họng bị chầy xước.

Khi kết thúc cuộc mổ phải kiểm tra kĩ số gạc và dụng cụ cẩn thận trước khi khâu vết thương đó lại.

Phải luôn đảm bảo tránh sự nhiễm trùng vết mổ.

Trong quá trình phẫu thuật, nếu thấy bn mất lượng máu nhiều thì phải chuẩn bị sẵn máu để truyền cho bn.

Read Full Post »

1/ Phần hành chánh:

Họ và tên: Nguyễn Thị M                  Giới tính: nữ

Sinh năm: 1938                                     Nghề nghiệp: già

Ngày nhập viện: 27/3/2012

2/ Lý do nhập viện: chóng mặt

3/ Bệnh sử:

Bn sốt 2 ngày trước nhập viện kèm ho khan, điều trị không rõ. 

Bn đi cầu phân đen sệt màu cà phê, bn mệt và chóng mặt nên nhập viện Hóc Môn, sau đó chuyển lên 115

Bn không buồn nôn và không nôn ói, thường hay tiểu đêm 2-3la62n trong 1 một đêm.

      *Tình trạng lúc nhập viện:

Sinh hiệu: Mạch: 85 lần/phút              Nhiệt độ: 370C

Huyết áp: 120/70mmHg                       Nhịp thở: 20lần/phút 

Tổng trạng trung bình, da niêm nhạt

Bụng di động theo nhịp thở,  tim đều, phổi trong

chạm thận(-), bụng ấn đau vùng thượng vị

        *Diễn tiến từ lúc nhâp viện đến lúc thăm khám:

Bn tỉnh, tiếp xúc tốt, tổng trạng trung bình, da niêm hồng,

bn không dám ăn nhiều, ấn không thấy đau vùng thượng vị và các nơi khác.

4/Tiền căn:

Bản thân: bị tăng huyết áp, ngoài ra chưa ghi nhận thêm gì khác.

Gia đình: không ghi nhận được gì bất thường

5/Khám lâm sàng:

-Sinh hiệu: Mạch: 70 lần/phút               Nhiệt độ: 370C

                     Huyết áp:120/70                  Nhịp thở: 20 lần/phút

-Tổng quát: Bn tỉnh, tiếp tốt,tổng trạng trung bình

                         da niêm nhạt, hạch ngoại vi không sờ chạm

                         không có các dấu hiệu phù nề.

-Ngực: .lồng ngực cân đối, di động đều theo nhịp thở, không có sự co    kéo cơ hô hấp phụ

              .Tim đều t1-t2 nghe rõ, phổi trong, không tiếng bất thường

-Bụng: .bụng mềm, di động theo nhịp thở, bụng không có các dấu hiệu bất thường khác, không có vết sẹo mổ cũ

               .ấn không đau vùng thượng vị và các vùng khác

               .nhu động ruột: 4 lần/phút, âm sắc không tăng

Cơ quan khác: nghi ngờ dấu hiệu dãn tĩnh mạch

 ngoài ra không ghi nhận được các bất thường khác.

6/Tóm tắt bệnh án:

BN nữ, sinh năm 1938 , nhập viện vì chóng mặt

TCCN: Bn sốt, ho khan, đi cầu phân đen,chóng mặt, đau vùng thượng vị.

TCTT: Bn tỉnh, tiếp xúc tốt, bụng mềm,da niêm nhạt,ấn không đau vùng thương vị, tim đều, phổi trong.

và không thấy các dấu hiệu bất thường khác.

Tiền căn: cao huyết áp

7/Đặt vấn đề:

Đau vùng thượng vị dạ dày- tá tràng

Viêm phế quản

Thiếu máu cục bộ

8/Cận lâm sàng:

*Cận lâm sàng đề nghị: X-quang tim phổi thẳng, công thức máu, nội soi dạ dày, ion đồ, ECG.

*Kết quả:

-Công thức máu:

Mono: 10,4%

Hgb: 6g/dl

RBC: 2.47 M/Ml

MHC: 24,3 pg

Htc: 20.7%

MCHC: 29g/dl

– Sinh hóa: Albumin 3.64 g/dl

-CR-tim phổi thẳng: bóng tim to

-Nội soi dạ dày: Hang vị có u sùi lớn, hang vị không co bóp

sinh thiết (+)

9/ Chẩn đoán xác định;

K hang vị.

Read Full Post »

Rút ống thông JJ

Sinh viên: Lê Công Tâm

1-Thông tin chung

Họ tên BN: Trần T.M
Giới : Nữ
Tuổi: 75
Nhập khoa: Ngoại niệu
2-Tóm tắt bệnh án

Cách nhập viện 2 tuần, bệnh nhân đột ngột đau quặn từng cơn ở vùng hông lưng trái, đi tiểu gắt buốt, không sốt. Cơn đau lan ra ¼ bụng dưới phải. Bệnh nhân đi khám tại BV 115, được chẩn đoán là sỏi thận và niệu quản trái. Bệnh nhân được điều trị tán sỏi nội soi và đặt ống JJ niệu quản trái. Lần này, bệnh nhân tái khám để rút ống JJ theo lịch hẹn.

Lý do chỉ định rút ống JJ niệu quản: Ống JJ đã hết tác dụng, niệu quản không còn phù nề.

3-Mô tả thủ thuật : Rút ống JJ

Chuản bị bệnh nhân: BN nằm tư thế sản khoa, 2 tay đưa lên để sau đầu

Chuẩn bị dụng cụ : bộ dụng cụ được ngâm trong dung dịch vô trùng 5-10 phút. Bộ dụng cụ gồm: 1 cáp dẫn quang, 1 troca để vào bàng quang, 1 Grasping forcep, 1 camera nội soi.

Tiến hành:

Trải khăn vô trùng và bộc lộ vừa đủ bộ phận sinh dục

Sát trùng bộ phận sinh dục bằng povidin (xoắn ốc từ trong ra ngoài)

Bơm Xylocain vào niệu đạo

Bôi vaselin lên troca

Đưa troca vào bàng quang theo lỗ niệu đạo

Khi troca đã vào được bàng quang thì đưa kẹp và camera vào để tìm ống JJ, sau đó kẹp ống JJ và rút ra ngoài


 Kinh nghiệm học được:

– Sau khi mổ tán sỏi ở niệu quản, niệu quản có nguy cơ chít hẹp cao, do sỏi cư trú ở niệu quản trong 1 thời gian dài, dễ làm xơ hóa và chít hẹp, vì vậy, sau khi mổ tán sỏi, cần thiết phải đặt 1 ống thông từ thận xuống bàng quang để ngăn niệu quản chít hẹp và dẫn nước tiểu xuống tốt.

– Nếu ống JJ không được rút hoặc rút ở thời gian quá muộn thì có nguy cơ nhiễm trùng cao

Read Full Post »

1. THÔNG TIN CHUNG:

Họ và tên: Võ Thị L, 71 tuổi, Phan Rang

Khoa: ngoại tổng quát, phòng 421

Ngày nhập viện: 15/03/2012

tóm tắt: bn đau tại vết mổ sau khi mổ thoát vị thành bụng và được đặt mảnh ghép thành bụng, khám thấy có tụ dịch đường kính 7cm dưới da. Sau khi đã loại trừ thoát vị nội và xét thấy bn không rối loạn đông máu, bn được chọc hút dịch, băng ép và cho xuất viện,

2. TIẾN HÀNH CHỌC HÚT

Chuẩn bị dụng cụ: gòn, gạc, kelly, nhíp, 1 xilanh và kim khẩu kính nhỏ( tiêm thuốc tê), 1 xilanh và kim khẩu kính lớn( chọc hút dịch)

Chuẩn bị bệnh nhân: cho bn nằm thẳng và bộc lộ vùng tụ dịch

Sát khuẩn vết mổ và vùng da xung quanh, sát khuẩn từ trong ra ngoài và rộng ra đến hết khối tụ dịch bằng dung dịch petadin và chờ trong 2 phút để dung dịch phát huy tác dụng

Xác định nơi chọc hút: là nơi căng nhất và phồng nhất

Gây tê nơi chọc hút, vừa bơm thuốc gây tê vừa rút  ra cho đến khi tầy dịch chảy ra

Hút dịch

Mô tả dịch: dịch màu hồng, khoảng 30ml, dịch từ vùng bóc tách tiết ra, bản chất là thanh dịch lẫn với máu

Băng ép: chèn gạc có trọng điểm, chỉ ép lên chỗ tụ dịch, không ép lên vết mổ

3. KINH NGHIỆM RÚT RA:

Đau bất thường sau mổ:

sau mổ 4 ngày vẫn còn đau, đau tăng dần và không đáp ứng với thuốc giảm đau. Nguyên nhân: nhiễm trùng, thoát vị( kèm hội chứng tắc ruột), tụ dịch, vết mổ quá căng

Read Full Post »

Older Posts »